Từ khóa nổi bật

Thứ Năm, ngày 14 tháng 5 năm 2015

Blackberry q10 giá bao nhiêu rẻ nhất tại Hà Nội

Trong suốt những năm qua, Blackberry đã khuấy đảo cộng đồng công nghệ và để lại ấn tượng khó phai đối với người hâm mộ. Vậy sản phẩm Blackberry có gì hay dể đáng đồng tiền của bạn? Và Blackberry Q10 giá bao nhiêu rẻ nhất tại Hà Nội?

Là phiên bản smảtphone đầu tiên của hang Blackberry, Blackberry Q10 đã có cú trở mình ngoạn mục so với các sản phẩm truyền thống trước đây:

Bàn phím Qwerty vật lý và màn hính cảm ứng





Sự kết hợp giữa bàn phím Qwerty vật lý và màn hình cảm ứng đã khiến cho Blackberry Q10 vừa hiện đại vừa truyền thống , nổi bật và đẹp mắt hơn so với phiên bản cũ. Đặc biệt, trên mỗi phím có các phần gờ nổi lên giúp chúng ta nhập liệu dễ dàng và chính xác, hạn chế tối đa lỗi sai do ấn nhầm nút.

Thiết kế lạ và đẹp mắt



So với thiết kế truyền thống bo tròn các góc như chiếc Blackberry huyền thoại, Blackberry Q10 đem lại cho người dùng cảm giác lạ, đặc biệt bởi màn hình vuông độc đáo, được thiết kế hài hòa giữa màn hình và bàn phím. Nếu là fan trung thành của sản phẩm này, bạn sẽ quen khi sử dụng sản phẩm này chỉ sau vài phút thao tác và có những trải nghiệm cực thú vị.

Ứng dụng của Blackberry Hub



Cũng như blackberry z10, blackberry q10 được hỗ trợ ứng dụng Blackberry hub có chức năng lưu trữ các hoạt động truyền thông của máy vào cùng một nơi như tin nhắn văn bản, email, gọi điện, thông báo, facebook…giúp người dùng dễ dàng quản lý và sử dụng. Bạn chỉ việc vuốt sang trá để sử dụng các tính năng của Blackberry hub, hoặc chỉ cần vuốt lên để trở về giao diện Blackberry hub.

Giá của Blackberry

Chắc chắn bạn đang băn khoăn ở đâu bán rẻ nhất điện thoại Blackberry q10 tại Hà Nội? Bạn hoàn toàn có thể sở hữu Blackberry Q10 Gold likenew chỉ với 3.790.000 tại DTG Shop – hệ thống bán lẻ ĐTDĐ tốt nhất hiện nay.

Hiện tại, ngoài Blackberry Q10, DTG Shop còn cung cấp đa dạng các dòng sản phẩm smartphone của các hãng đình đám như: Sam sung, Nokia, Sony, HTC… cho bạn thỏa sức trải nghiệm. Xem thêm tại đây để biết thêm thông tin chi tiết bạn nhé.

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 2 năm 2015

Thử nghiệm lâm sàng giúp ngăn ngừa ung thư đầu cổ

Triệu chứng ung thư đầu cổ có thể bao gồm một cục hoặc một vết loét không lành, đau họng mà không hết, khó nuốt, và một sự thay đổi hoặc khàn giọng nói. Những triệu chứng này cũng có thể được gây ra bởi, điều kiện ít nghiêm trọng khác. Điều quan trọng là phải kiểm tra với bác sĩ hoặc nha sĩ về bất kỳ những triệu chứng này. Các triệu chứng có thể ảnh hưởng đến các khu vực cụ thể của người đứng đầu và cổ bao gồm những điều sau đây:
Khoang miệng. Một miếng vá màu trắng hoặc màu đỏ trên nướu răng, lưỡi, hoặc niêm mạc miệng; phồng lên hàm răng giả gây ra để phù hợp kém hoặc trở nên không thoải mái; và chảy máu bất thường hoặc đau ở miệng.
Họng. Khó thở hoặc nói; đau khi nuốt; đau ở cổ hoặc cổ họng mà không hết; nhức đầu thường xuyên, đau, hoặc ù tai; hoặc khó nghe.
Thanh quản. Đau khi nuốt hoặc đau tai.

Xoang cạnh mũi và khoang mũi. Xoang bị chặn và không rõ ràng; viêm xoang mãn tính không đáp ứng với điều trị bằng thuốc kháng sinh; chảy máu qua mũi; nhức đầu thường xuyên, sưng hoặc khó khác với con mắt; đau ở răng hàm trên; hoặc các vấn đề với răng giả.
Tuyến nước bọt. Sưng dưới cằm hoặc xung quanh xương hàm, tê hoặc liệt cơ ở mặt, hoặc đau ở mặt, cằm, hay cổ mà không hết.
Biết sớm được thì việc điều trị ung thư đầu cổ có hiệu quả kéo dài sự sống cho bệnh  nhân.
Làm thế nào phổ biến là ung thư đầu và cổ?
Chiếm ung thư đầu và cổ trong khoảng 3 phần trăm của tất cả các loại ung thư ở Hoa Kỳ (29). Loại ung thư này là gần gấp đôi phổ biến trong số những người đàn ông khi họ là những người phụ nữ (30). Đầu và cổ ung thư cũng được chẩn đoán thường xuyên hơn ở những người trên 50 tuổi hơn là với những người trẻ.
Các nhà nghiên cứu ước tính rằng hơn 52.000 người đàn ông và phụ nữ ở đất nước này sẽ được chẩn đoán là bị ung thư đầu và cổ vào năm 2012 (30).
Làm thế nào tôi có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư của tôi đầu và cổ?
Những người có nguy cơ ung thư đầu và cổ, đặc biệt là những người sử dụng thuốc lá nên nói chuyện với bác sĩ về những cách mà họ có thể làm giảm nguy cơ của họ. Họ cũng nên thảo luận với bác sĩ của họ như thế nào thường có kiểm tra. Ngoài ra, các thử nghiệm lâm sàng liên tục được thử nghiệm hiệu quả của các loại thuốc khác nhau trong việc ngăn ngừa ung thư đầu và cổ ở những người có nguy cơ cao phát triển bệnh này. Một danh sách các thử nghiệm này có thể được tìm thấy tại các liên kết dưới đây.
Các thử nghiệm lâm sàng để ngăn ngừa ung thư đầu và cổ: Thông tin từ các chuyên gia ung thư Dịch vụ thông tin của NCI (CIS) cũng có thể giúp mọi người tìm thử nghiệm lâm sàng cho công tác phòng chống ung thư đầu và cổ. CIS có thể đạt được tại 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237) hoặc bằng cách trò chuyện với một chuyên gia thông tin ung thư trực tuyến thông qua LiveHelp.
Tránh nhiễm HPV qua đường miệng có thể làm giảm nguy cơ ung thư đầu và cổ HPV liên quan. Tuy nhiên, nó vẫn chưa biết liệu các loại vắc-xin HPV Food and Drug Administration-phê duyệt và Gardasil ® Cervarix® phòng ngừa nhiễm HPV của khoang miệng, và không phải vaccine vẫn chưa được phê duyệt đối với công tác phòng chống bệnh ung thư hầu họng. Thông tin thêm về các loại vắc-xin là trong tờ NCI Human Papillomavirus (HPV) Vắc-xin.
http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-dau-co.aspx

Thứ Bảy, ngày 21 tháng 2 năm 2015

Hút thuốc thụ động có nguy cơ mắc ung thư đầu cổ

Nguyên nhân gay ung thư đầu cổ chưa được xác đinh, nhưng những nguy cơ mắc cao hơn người bình thường. Những người sử dụng cả thuốc lá và rượu có nguy cơ phát triển các bệnh ung thư hơn những người sử dụng hoặc thuốc lá hoặc rượu một mình (6-8). Thuốc lá và uống rượu có nguy cơ không được yếu tố cho ung thư tuyến nước bọt. Việc sử dụng rượu và thuốc lá (bao gồm cả thuốc lá không khói, đôi khi được gọi là "kẹo thuốc lá" hay "hít") là hai yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư đầu và cổ, đặc biệt là ung thư khoang miệng, hầu họng, hầu dưới, và thanh quản (2-5 ). Ít nhất 75 phần trăm của ung thư đầu và cổ được gây ra bởi thuốc lá và rượu (6). 
Nhiễm với các loại ung thư gây u nhú ở của con người (HPV), đặc biệt là HPV-16, là một yếu tố nguy cơ đối với một số loại ung thư đầu và cổ, đặc biệt là ung thư hầu họng có liên quan đến các amiđan hoặc đáy lưỡi (9-11). Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh ung thư hầu họng do nhiễm HPV đang gia tăng, trong khi tỷ lệ mắc bệnh ung thư hầu họng liên quan đến các nguyên nhân khác đang giảm (9). Thêm thông tin có sẵn trong HPV và ung thư thực tế tờ.
Các yếu tố nguy cơ khác của bệnh ung thư vùng đầu và cổ bao gồm những điều sau đây:
Paan (trầu quid). Những người nhập cư từ Đông Nam Á, người sử dụng paan (trầu quid) trong miệng nên biết rằng thói quen này đã được gắn liền với tăng nguy cơ ung thư miệng (12, 13).

Paraguay. Tiêu thụ chè Paraguay, một thức uống trà giống như thói quen tiêu thụ của người Nam Mỹ, có liên quan với tăng nguy cơ ung thư miệng, họng, thực quản, thanh quản và (13, 14).
Bảo quản hoặc thực phẩm ướp muối. Tiêu thụ của một số loại thực phẩm bảo quản hoặc muối trong thời thơ ấu là một yếu tố nguy cơ ung thư mũi họng (15, 16).
Sức khỏe răng miệng. Vệ sinh răng miệng kém và mất răng có thể là những yếu tố rủi ro khiến cho các bệnh ung thư khoang miệng (17, 18). Sử dụng nước súc miệng mà có nồng độ cồn cao là có thể, nhưng chưa được chứng minh, yếu tố nguy cơ đối với ung thư khoang miệng (17, 18). Phơi nhiễm nghề nghiệp. Tiếp xúc nghề nghiệp với bụi gỗ là một yếu tố nguy cơ ung thư mũi họng (15, 16). Một số phơi nhiễm công nghiệp, bao gồm tiếp xúc với sợi amiăng và tổng hợp, có liên quan với ung thư thanh quản, nhưng sự gia tăng nguy cơ vẫn còn gây nhiều tranh cãi (19). Những người làm việc trong công việc nhất định trong việc xây dựng, kim loại, dệt may, gốm sứ, gỗ, và các ngành công nghiệp thực phẩm có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư thanh quản (20). Tiếp xúc với công nghiệp gỗ hoặc niken bụi hoặc formaldehyde là một yếu tố nguy cơ đối với ung thư xoang cạnh mũi và mũi xoang (21-23).
Bức xạ tiếp xúc. Bức xạ với điều kiện không phải ung thư hoặc ung thư đầu cổ, là một yếu tố nguy cơ ung thư tuyến nước bọt (17, 24, 25).
Epstein-Barr virus lây nhiễm. Nhiễm virus Epstein-Barr là một yếu tố nguy cơ ung thư mũi họng (26) và ung thư tuyến nước bọt (27, 28).
Tổ tiên. Tổ tiên châu Á, đặc biệt là tổ tiên của Trung Quốc, là một yếu tố nguy cơ ung thư mũi họng (15, 16).
Nguồn tham khảo: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-dau-co.aspx

Thứ Tư, ngày 18 tháng 2 năm 2015

Hóa trị trong điều trị ung thư tuyến nước bọt

Một số phương pháp điều trị tiêu chuẩn (điều trị hiện đang được sử dụng), và một số đang được thử nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng. Một thử nghiệm lâm sàng điều trị là một công trình nghiên cứu này là nhằm giúp cải thiện phương pháp điều trị hiện tại hoặc có được thông tin về phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân ung thư. Khi thử nghiệm lâm sàng cho thấy một điều trị mới là tốt hơn so với điều trị tiêu chuẩn, việc điều trị mới có thể trở thành điều trị ung thư tuyến nước chuẩn. Bệnh nhân có thể muốn suy nghĩ về việc tham gia vào thử nghiệm lâm sàng. Một số thử nghiệm lâm sàng chỉ mở cửa cho những bệnh nhân đã không bắt đầu điều trị.
Bệnh nhân ung thư tuyến nước bọt có nên được điều trị theo kế hoạch của một nhóm các bác sĩ là các chuyên gia trong điều trị ung thư đầu và cổ.
Điều trị của bạn sẽ được giám sát bởi một bác sĩ chuyên khoa, một bác sĩ chuyên điều trị những người bị ung thư. Vì các tuyến nước bọt giúp đỡ trong việc ăn uống và tiêu hóa thức ăn, bệnh nhân có thể cần sự giúp đỡ đặc biệt thích nghi với các tác dụng phụ của điều trị ung thư và nó. Các bác sĩ chuyên khoa có thể giới thiệu bạn đến bác sĩ khác, những người có kinh nghiệm và chuyên môn trong điều trị bệnh nhân ung thư đầu và cổ và những người chuyên về một số lĩnh vực của y học.
Ba loại điều trị tiêu chuẩn được sử dụng:
Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư có sử dụng năng lượng cao x-quang hoặc các loại bức xạ để diệt tế bào ung thư hoặc giữ chúng phát triển. Có hai loại xạ trị. Liệu pháp xạ trị ngoài sử dụng một máy bên ngoài cơ thể để gửi bức xạ đối với các bệnh ung thư. Xạ trị nội bộ sử dụng một chất phóng xạ kín trong kim, hạt, dây điện, hoặc ống thông được đặt trực tiếp hoặc gần các bệnh ung thư. Cách điều trị bức xạ được đưa ra phụ thuộc vào loại và giai đoạn của ung thư được điều trị.
Loại đặc biệt của bức xạ có thể được sử dụng để điều trị một số khối u tuyến nước bọt. Chúng bao gồm:
Nhanh neutron xạ trị: bức xạ neutron điều trị nhanh là một loại năng lượng cao xạ ngoài điều trị. Một máy xạ trị nhằm mục đích nhỏ, hạt vô hình, gọi là neutron, những tế bào ung thư để tiêu diệt chúng. Xạ trị neutron nhanh chóng sử dụng một bức xạ năng lượng cao hơn so với các loại x-ray của xạ trị. Điều này cho phép các bức xạ trị liệu được đưa ra trong phương pháp điều trị ít hơn.
Photon chùm bức xạ trị liệu: Một loại xạ trị mà đạt đến khối u sâu sắc với năng lượng cao x-quang được thực hiện bởi một máy gọi là máy gia tốc tuyến tính. Điều này có thể được cung cấp như xạ trị hyperfractionated, trong đó tổng liều bức xạ được chia thành liều nhỏ và các phương pháp điều trị được đưa ra nhiều hơn một lần một ngày.
Hóa trị
Hóa trị là phương pháp điều trị ung thư có sử dụng thuốc để ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào ung thư, hoặc bằng cách giết chết các tế bào hoặc ngăn không cho chúng phân chia. Khi hóa trị liệu được dùng bằng đường uống hoặc tiêm vào tĩnh mạch hoặc bắp thịt, các loại thuốc vào mạch máu và có thể đến các tế bào ung thư ở khắp cơ thể (hóa trị toàn thân). Khi hóa trị được đặt trực tiếp vào dịch não tủy, một cơ quan, hoặc một khoang cơ thể như bụng, các loại thuốc chủ yếu ảnh hưởng đến các tế bào ung thư ở những nơi (hóa trị khu vực). Cách điều trị hoá chất được đưa ra phụ thuộc vào loại và giai đoạn của ung thư được điều trị.
Xem Thuốc được chấp thuận cho đầu và ung thư cổ để biết thêm thông tin. (Ung thư tuyến nước bọt là một loại ung thư đầu và cổ.)
Các loại thuốc mới điều trị đang được thử nghiệm trong các thử nghiệm lâm sàng.
Phần tóm tắt này mô tả phương pháp trị liệu đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng. Nó có thể không đề cập đến tất cả các điều trị mới đang được nghiên cứu. Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng có sẵn từ các trang web Web NCI.

Bệnh nhân có thể muốn suy nghĩ về việc tham gia vào thử nghiệm lâm sàng.
Đối với một số bệnh nhân, tham gia trong một thử nghiệm lâm sàng có thể là sự lựa chọn điều trị tốt nhất. Các thử nghiệm lâm sàng là một phần của quá trình nghiên cứu ung thư. Các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện để tìm ra phương pháp điều trị ung thư mới nếu là an toàn và hiệu quả hoặc tốt hơn so với điều trị chuẩn.
Nhiều phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện nay của ung thư dựa trên các thử nghiệm lâm sàng trước đó. Những bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm lâm sàng có thể nhận được các điều trị chuẩn hoặc là những người đầu tiên nhận được một điều trị mới.
Những bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm lâm sàng cũng giúp cải thiện các bệnh ung thư đường sẽ được xử lý trong tương lai. Ngay cả khi thử nghiệm lâm sàng không dẫn đến phương pháp điều trị mới có hiệu quả, họ thường trả lời những câu hỏi quan trọng và giúp đỡ nghiên cứu di chuyển về phía trước.
Bệnh nhân có thể nhập thử nghiệm lâm sàng trước, trong hoặc sau khi bắt đầu điều trị ung thư của họ.
Một số thử nghiệm lâm sàng chỉ bao gồm những bệnh nhân chưa được điều trị. Phương pháp điều trị thử nghiệm, thí nghiệm khác cho bệnh nhân có ung thư đã không nhận được tốt hơn. Cũng có những thử nghiệm lâm sàng thử nghiệm những cách thức mới để ngăn chặn bệnh ung thư tái phát (trở lại) hoặc làm giảm tác dụng phụ của điều trị ung thư.
Các thử nghiệm lâm sàng đang diễn ra ở nhiều nơi trong nước. Xem phần điều trị tùy chọn sau đó cho các liên kết đến các thử nghiệm lâm sàng điều trị hiện nay. Những đã được lấy ra khỏi danh sách các thử nghiệm lâm sàng của NCI.
Có thể cần phải theo dõi kiểm tra.
Một số thử nghiệm đã được thực hiện để chẩn đoán ung thư tuyến nước bọt hoặc tìm ra các giai đoạn của ung thư có thể được lặp đi lặp lại. Một số xét nghiệm sẽ được lặp đi lặp lại để xem việc điều trị là làm việc tốt như thế nào. Các quyết định về việc có nên tiếp tục, thay đổi, hoặc ngừng điều trị có thể dựa trên các kết quả của các xét nghiệm này. Điều này đôi khi được gọi là tái dàn dựng.

Thứ Ba, ngày 10 tháng 2 năm 2015

ghép tế bào gốc cho bệnh nhân ung thư máu

Diệu Thuần chia sẻ, bệnh tật đến với cô thật bất ngờ. Thuần không nghĩ mình khỏe mạnh vậy mà lại mang bệnh. Những cơn đau chân hành hạ, đau đến không đi lại được và những cơn sốt liên tục, sức khỏe giảm sút, những việc đơn giản nhất như: tắm, gội cũng phải nhờ mẹ, đi lại phải có người cõng… Có những lúc vừa chịu cơn đau, vừa thấp thỏm chờ máu để truyền.
Tại thời điểm đó, Diệu Thuần cũng nghe về việc ghép tủy (ghép tế bào gốc) nhưng Thuần không dám hy vọng, cũng không biết có đủ điều kiện để ghép không. Bao nhiêu lo lắng dồn lại nhưng khi được các bác sĩ tư vấn và được sự giúp đỡ của mọ người, Diệu Thuần thấy tự tin hơn và yên tâm để bắt đầu bước vào giai đoạn điều trị mới.
Trải qua 7 năm kiên trì điều trị ung thư máu bằng thuốc nhắm đích Gleevec không có hiệu quả. Đến năm 2012, các y, bác sĩ của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đã quyết định thực hiện ghép tế bào gốc cho Diệu Thuần. Tế bào gốc lấy từ người anh trai ruột.
Ths. Võ Thị Thanh Bình – Trưởng Khoa ghép Tế bào gốc, Viện Huyết học – Truyền máu TW - người trực tiếp thực hiện ca ghép cho biết, 30 ngày sau ca ghép, các xét nghiệm tủy của Diệu Thuần đều cho kết quả khả quan. Các chỉ số tế bào máu đã trở lại gần như bình thường….
Kết quả đó như “một phép màu” không chỉ với Diệu Thuần, mà còn mang lại niềm tin điều trị bệnh cho nhiều người bệnh không may mắn mắc bệnh máu, trong đó có những bệnh nhân nhóm bệnh lơ-xê-mi kinh dòng bạch cầu hạt.

Thời điểm này, cũng vừa tròn 2 năm Diệu Thuần điều trị bằng phương pháp mới – ghép tế bào gốc tạo máu, nhưng những dư âm đau đớn của bệnh tật và nỗi thấp thỏm chờ máu vẫn còn chưa phai mờ.
"Trong 3 năm, tôi ăn tết trong hoàn cảnh đối mặt với tử thần vì không có máu để truyền. Rất may mắn khi đó gia đình, bạn bè đã ở bên cạnh, đặc biệt là nhờ vào sự giúp đỡ ân tình của những người chưa bao giờ gặp, sẵn sàng hiến những giọt máu hồng cho tôi”, Diệu Thuần nói.
Được biết, tháng 9/2005, Diệu Thuần phát hiện bệnh máu ác tính, thuộc nhóm bệnh lơ-xê-mi kinh dòng bạch cầu hạt (còn gọi là ung thư máu). Đây cũng là thời điểm Diệu Thuần bước vào đại học. Để trở về cuộc sống như người khỏe mạnh, bình thường. Cô gái đã phải trải qua nhiều khó khăn, nỗ lực chống chọi với bệnh tật.
Diệu Thuần (đeo kính) luôn tham gia vào công tác thiện nguyện, hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh ung thư máu.
Hiện giờ, Diệu Thuần đã khỏe mạnh, bắt đầu cuộc sống bình thường, được làm những công việc yêu thích, từ những công việc đơn giản nhất như đi chợ, nấu ăn, gặp gỡ bạn bè, tiếp tục viết thơ, viết truyện ngắn và đã tìm được việc làm tại một công ty về truyền thông và du lịch. Mặc dù vậy, để đảm bảo sức khỏe tốt, Thuần vẫn phải theo dõi định kỳ 1 tháng 1 lần.
Bên cạnh những công việc đời thường, chia sẻ về những ngày điều trị, nhận được sự giúp đỡ của mọi người, Diệu Thuần luôn mong muốn được khỏe mạnh và muốn góp sức trong việc vận động cộng đồng tham gia hiến máu vì người bệnh. Cũng như, gửi đi thông điệp về nghị lực, niềm tin trong điều trị bệnh. Thực hiện ước mơ này, ngày 21/9 (chủ nhật) này, Diệu Thuần sẽ có mặt tại chương trình hiến máu Festival Nghĩa tình mùa thu – 2014. Chỉ để góp một phần nhỏ bé như các tình nguyện viên để kêu gọi mọi người tham gia hiến máu cho người bệnh.

Bạch cầu tăng đột biến là ung thư máu

Khi mắc căn bệnh này, bạch cầu trong cơ thể người bệnh sẽ tăng đột biến. Thông thường, bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, tuy nhiên, khi tăng lên đột biến, số lượng lớn bạch cầu sẽ trở nên “hung dữ” và gây hại cho chúng ta.Nguyên nhân ung thư máu đích thực của bệnh chưa được biết rõ, nhưng một số rủi ro có thể gây ra bệnh. Đó là :
- Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ, như trường hợp các nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật vào cuối Thế Chiến II, vụ tai nạn nổ lò nguyên tử Chernobyl (Ukraine) năm 1986 hoặc ở bệnh nhân tiếp nhận xạ trị.
- Bệnh nhân ung thư được điều trị bằng dược phẩm. 
- Làm việc trong môi trường có nhiều hóa chất như benzene, formaldehyde. 
- Một số bệnh do thay đổi gene như hội chứng Down, do virus hoặc vài bệnh về máu. 
Khi bệnh ung thư máu (ung thư bạch cầu) phát triển nhanh trong tủy, nó sẽ gây ra cảm giác đau nhức, đồng thời còn chiếm chỗ và làm ảnh hưởng tới sự phát triển của các tế bào máu bình thường khác. Khi đó, bệnh nhân có thể gặp một số triệu chứng sau:Làm thế nào để phát hiện sớm và điều trị ung thư máu ? Hãy lưu ý các triệu chứng sau đây nhé vì rất có thể đó là biểu hiện của bệnh ung thư máu đấy
còn được gọi là bệnh bạch cầu. Đây là một bệnh vô cùng nguy hiểm đối với hệ thống máu nói riêng và sức khỏe nói chung. Bệnh ung thư máu thường đi kèm với sự sụt giảm, triệt tiêu lớn số lượng các tế bào máu (hồng cầu). Tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân mắc bệnh này rất cao.
Vậy, làm thế nào để phát hiện sớm và điều trị hiệu quả căn bệnh này? Bạn hãy lưu ý các triệu chứng sau đây nhé vì rất có thể đó là biểu hiện của bệnh ung thư máu!
Đốm đổ trên da
Nếu bạn phát hiện có những đốm màu đỏ hoặc màu tím nổi trên da thì bạn hãy lập tức đến gặp bác sĩ nhé. Bởi rất có thể, hiện tượng đó là hệ quả của việc sụt giảm số lượng tiểu cầu trong cơ thể. Tiểu cầu là tế bào máu tham gia vào việc ngăn chăn chảy máu, giúp
Đau xương
Một trong những triệu chứng chính của ung thư máu chính là đau xương. Các cơn đau có thể xuất hiện tùy theo mức độ của bệnh và thường xuất hiện ở khớp xương chân, đầu gối, cánh tay, lưng… Nguồn gốc của những cơn đau này là từ tủy xương – nơi sản xuất ra các tế bào máu.
Nhức đầu:

Các bệnh nhân được chuẩn đoán mắc ung thư máu thường có những cơn đau đầu dữ dội, đi kèm với đó là hiện tượng đổ mồ hôi, da dẻ xanh xao. Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự suy thoái lưu lượng máu đưa lên não khiến não không được cungn cấp đủ oxy nên gây đau đầu.
sưng hạch bạch huyết
Khi bị bệnh ung thư máu, các tế bào bạch cầu mất dần khả năng miễn dịch đối với các vi khuẩn, virus xâm nhập từ bên ngoài. Viêm hạch bạch huyết là một dạng viêm bạch cầu gây ra do vi khuẩn. Do vậy, sưng hạch bạch huyết thường nổi dưới da của bệnh nhân ung thư máu và không gây đau.
da Xanh xao:
Do vậy, sưng hạch bạch huyết thường nổi dưới da của bệnh nhân ung thư máu và không gây đau. Hồng cầu là tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chúng vận chuyển oxy đến tất cả các cơ quan, các mô. Thiếu máu khiến cơ thể trở nên mệt mỏi, xanh xao bởi cơ thể không đáp ứng được nhu cầu trao đổi dưỡng khí.
chảy máu cam:
Chảy máu cam là hiện tượng khá thường gặp, tuy nhiên, nhiều người thường xem nhẹ hiện tượng bệnh lý này. Thông thường, chảy máu cam thưởng xảy ra ở mức độ nhẹ và dễ cầm máu ngay. Tuy nhiên, nếu gặp trường hợp lượng máu chảy nhiều, xảy ra liên tục trong nhiều ngày thì ngay lập tức bạn phải nhập viện và khám bệnh. Bởi rất có thể, bạn đã mang bệnh ung thư máu, bởi đây có thể là hệ quả của việc giảm số lượng tiểu cầu - tế bào có tác dụng cầm máu.
sốt cao thường xuyên:
Bệnh nhân mắc ung thư máu thường suy giảm trầm trọng khả năng miễn dịch. Nguyên nhân là do các tế bào bạch cầu mất dần khả năng tiêu diệt và kháng cự vi khuẩn từ bên ngoài thâm nhập vào cơ thể. Chính vì thế, cơ thể chúng ta thường xuyên bị vi khuẩn, virus từ bên ngoài xâm nhập. Hiện tượng suy giảm miễn dịch thường thể hiện qua những cơn sốt cao, những vết thương nhiễm trùng khó lành.
khó thở: Như đã nói ở trên, ung thư máu dẫn đến sự suy giảm hồng cầu, điều này đã khiến cơ thể không có đủ oxy để thực hiện các chức năng hô hấp và trao đổi dưỡng khí trong cơ thể. Cơ thể bệnh nhân mắc ung thư máu luôn trong tình trạng thiếu oxy dẫn đến khó thở nghiêm trọng.
Đau bụng:
Khi sự tiến triển của bệnh ung thư máu gia tăng ở gan và lá lách, nó có thể gây sưng tấy ở các bộ phận này. Chính vì thế, bệnh nhân sẽ có cảm giác đau bụng, đầy hơi. Mất cảm giác ngon miệng, Dấu hiệu của bệnh thay đổi tùy theo số lượng bạch cầu trong máu và tùy theo nơi mà các bạch cầu ác tính tụ tập. Các dấu hiệu này cũng không tiêu biểu cho ung thư bạch cầu, Vì vậy cần được chẩn đoán ung thư máu
Sau đây là các dấu hiệu thường thấy: nóng sốt, đổ mồ hôi và ban đêm, đau đầu là dấu hiệu thần kinh, mệt mỏi suy yếu, xuống cân dễ dàng mắc bệnh truyền nhiễm do khả năng suy yếu, xuất huyết dễ dàng, đau nhức xương khớp, chướng bụng, gan, lá lách, nổi hạch ở cổ, .. nếu không điều trị ung thư cấp tính đưa tới tử vong rất mau. 

Thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng cho người thiếu máu

Một cơ thể khỏe mạnh thì cần được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cơ thể, Bên cạnh sử dụng các thực phẩm chức năng, thuốc để bổ sung sắt, bạn có thể bổ sung vào chế độ ăn của mình một số thực phẩm giàu chất sắt để ngăn ngừa tình trạng thiếu máu, ung thư máu có thể xảy ra. 
Một số thực phẩm giàu chất sắt, tốt cho máu như:
1. Những thực phẩm bổ máu có nguồn gốc động vật.
- Ức gà: Ức gà là bộ phận chứa nhiếu sắt nhất trong cơ thể của gà. Trong 100gr thịt gà thì chứa khoảng 0,7mg sắt.
- Cá hồi: Cá hồi bổ sung lượng lớn o-mega -3 cho cơ thể ngăn ngừa tình trạng thiếu máu, giảm hiện tượng máu đông, các bệnh về đột quỵ, huyết áp.
- Gan: Theo nghiên cứu cứ khoảng 100gr gan thì có 9mg sắt có lợi cho cơ thể. Gan bò là loại thực phẩm bổ sung sắt tốt cho cơ thể, ngoài ra gan bò còn chứa hàm lượng cholesterol và giàu calo rất tốt cho người thiếu máu.
- Thịt bò: Đây là loại thực phẩm chứa hàm lượng sắt rất lớn. Trong 85gr thịt bò có chứa 2,1 mg sắt, chính vì thế đây là nguồn bổ sung sắt và lượng hemoglobin cho cơ thể.
- Ngao: Trong 100gr ngao có tới 23mg sắt. Chế biến ngao thành các món hấp, canh, súp là món ăn bổ sung máu và các chất dinh dưỡng cho người thiếu máu.
2. Những thực phẩm bổ máu có nguồn gốc thực vật sẽ góp phần làm giảm nguy cơ mắc bệnh, việc phát hiện dấu hiệu ung thư máu sớm sẽ góp phần điều trị thành công.
Bên cạnh việc bổ xung các thực phẩm có nguồn gốc động vật thì một số thực phẩm có nguồn gốc thực vật cũng có giàu chất sắt giúp ngăn ngừa tình trạng thiếu máu, ung thư máu.
- Nho. Nho có tác dụng tái tạo máu. Nho giàu các chất như photpho, canxi, sắt, vitamin. Đặc biệt nho còn có chức năng đào thải độc tố trong cơ thể, tăng cường tái tạo máu.
- Cà rốt: Trong cà rốt chứa hàm lượng lớn beta-carotene có tác dụng trong việc bổ sung, tái tạo tế bào máu. Những nguyên tố như canxi, đồng, sắt, magie, mangan …có trong cà rốt đều ở dạng dễ hấp thụ.
- Bí đỏ: Trong bí đỏ chứa hàm lượng lớn vitamin B12 – một thành phần quan trọng giúp tăng cường hoạt động của các tế bào hồng cầu, kẽm ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của các tế bào máu trưởng thành, sắt sản xuất các nguyên tố vi lượng hemoglobin.
- Bông cải xanh: Đây là loại thực phẩm giàu chất xơ, ngoài ra bông cải xanh còn bổ xung một lượng lớn vitamin A, vitamin C, kẽm…rất tốt cho máu.
- Hạt bí ngô: Đây là loại thực phẩm giàu hàm lượng sắt. Cứ trong 100gr bí ngô thì có khoảng 15mg sắt. Ngoài ra bí ngô còn có tác dụng giảm các axit béo, có tác dụng giảm cân.
- Chuối: Là loại thực phẩm dồi dào chất sắt và khoáng chất. Ăn chuối vào bữa sáng giúp điều trị tình trạng thiếu máu đậc biệt tình trang thiếu máu ở phụ nữ mang thai . Ngoài ra chuối còn có tác dụng giảm triệu chứng táo bón hiệu quả.
Đây là một số thực phẩm vàng giúp bổ sung chất sắt có lợi cho máu, ngăn ngừa nguy cơ mắc ung thư tế bào máu. Tuy nhiên cần đi khám ngay nếu cơ thể thấy các hiện tượng mệt mỏi, suy nhược cơ thể, tê nhức chân tay, đau đầu…

Kiểm tra sức khỏe bảo vệ cơ thể khỏi các loại bệnh không ngờ tới

Trong giai đoạn đầu của bệnh bạch cầu mãn tính (phát triển chậm), nhiều người có ít hoặc không có triệu chứng. Các dấu hiệu và triệu chứng thường phát triển dần dần và mọi người sẽ phàn nàn rằng họ chỉ cảm thấy không khỏe. Thường hay mệt mỏi, sốt và đổ mồ hôi đêm có phải là triệu chứng ung thư máu không?
Giống như tất cả các tế bào máu, tế bào bạch cầu đi khắp cơ thể. Các triệu chứng của bệnh bạch cầu phụ thuộc vào số lượng tế bào bạch cầu và nơi mà những tế bào này tích tụ trong cơ thể. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh bạch cầu cấp tính (phát triển nhanh) có thể tương tự như cúm và đến đột ngột trong vòng vài ngày hoặc vài tuần. Các bệnh thường được phát hiện trong một thử nghiệm máu định kỳ.
Những người bị bệnh bạch cầu mãn tính có thể không có triệu chứng. Bệnh nhân chỉ được phát hiện bệnh khi xét nghiệm máu thường xuyên.
Những người bị bệnh bạch cầu cấp tính thường nhận thấy những triệu chứng nhanh chóng. Nếu não bộ bị ảnh hưởng, họ có thể bị nhức đầu, ói mửa, rối loạn, mất kiểm soát cơ, hoặc động kinh. Bệnh bạch cầu cũng có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể như đường tiêu hóa, thận, phổi, tim hoặc tinh hoàn.

Triệu chứng thường gặp của bệnh bạch cầu bao gồm:
Nhiễm trùng thường xuyên
Cảm thấy yếu ớt mệt mỏi
Dễ chảy máu và bầm tím (chảy máu nướu răng, vết thương lâu lành trên da, hoặc xuất hiện những nốt đỏ nhỏ dưới da)
Sưng hoặc khó chịu ở bụng (do lá lách hoặc gan sưng to)
Sưng hạch bạch huyết và thường không đau (đặc biệt là các hạch bạch huyết ở cổ hoặc nách)
Sốt hoặc đổ mồ hôi đêm
Giảm cân hoặc chán ăn không có lý do
Đau ở xương hoặc khớp
Thông thường, các triệu chứng này có thể là do nhiễm trùng hoặc các vấn đề khác về sức khỏe khác gây nên. Tuy nhiên, đó cũng có thể là dấu hiệu của bệnh bạch cầu.
Chẩn đoán ung thư máu là quá trình tìm kiếm các nguyên nhân cơ bản của một vấn đề sức khỏe. Quá trình chẩn đoán có thể có vẻ dài và bực bội, nhưng điều quan trọng là cho các bác sĩ để loại trừ các nguyên nhân khác có thể cho một vấn đề sức khoẻ trước khi chẩn đoán ung thư. Xét nghiệm chẩn đoán bệnh bạch cầu thường được thực hiện khi: Các triệu chứng của bệnh bạch cầu có mặt
các bác sĩ nghi ngờ bệnh bạch cầu sau khi nói chuyện với một người về sức khỏe của mình và hoàn thành một kỳ thi vật lý
các xét nghiệm thường cho thấy một vấn đề với máu
Một số thử nghiệm tương tự được sử dụng để chẩn đoán ung thư ban đầu được sử dụng để xác định giai đoạn (cách xa ung thư đã tiến triển). Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm khác để kiểm tra sức khỏe tổng quát của bạn và giúp lập kế hoạch điều trị của bạn. Kiểm tra có thể bao gồm những điều sau đây.

Thứ Hai, ngày 09 tháng 2 năm 2015

ung thư tuyến nước bọt thường được chẩn đoán như thế nào

Các tuyến nước bọt tiết nước bọt và phát hành nó vào miệng. Nước bọt có men giúp tiêu hóa thức ăn và các kháng thể giúp bảo vệ chống lại bệnh nhiễm trùng trong miệng và cổ họng. Ung thư tuyến nước bọt là một căn bệnh hiếm gặp trong đó (ung thư) các tế bào ác tính hình thành trong các mô của tuyến nước bọt. Có 3 cặp tuyến nước bọt chính:
Tuyến mang tai: Đây là các tuyến nước bọt lớn nhất và được tìm thấy ở phía trước và ngay dưới mỗi tai. Hầu hết các khối u tuyến nước bọt lớn bắt đầu ở tuyến này. Tuyến dưới lưỡi: Những tuyến được tìm thấy dưới lưỡi trong sàn của miệng. Tuyến Submandibular: Những tuyến được tìm thấy bên dưới xương hàm.
Mở rộng
Cấu tạo của các tuyến nước bọt; Hình vẽ cho thấy một mặt cắt ngang của người đứng đầu và ba cặp chính của các tuyến nước bọt. Các tuyến mang tai là ở phía trước và ngay dưới mỗi tai; các tuyến dưới lưỡi dưới lưỡi trong sàn của miệng; các tuyến submandibular dưới mỗi bên của xương hàm. Lưỡi và hạch bạch huyết cũng được hiển thị.
Cấu tạo của các tuyến nước bọt. Ba cặp chính của các tuyến nước bọt là tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi và các tuyến submandibular.
Ngoài ra còn có hàng trăm nhỏ (nhỏ) các tuyến nước bọt xếp các bộ phận của miệng, mũi và thanh quản có thể được nhìn thấy chỉ với một kính hiển vi. Hầu hết các khối u tuyến nước bọt nhỏ bắt đầu trong vòm miệng (vòm miệng).
Hơn một nửa trong số tất cả các khối u tuyến nước bọt lành tính (không ung thư) và không lây lan đến các mô khác.



Ung thư tuyến nước bọt là một loại ung thư đầu và cổ.
Tiếp xúc với một số loại bức xạ có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến nước bọt.
Bất cứ điều gì làm tăng cơ hội nhận được một bệnh được gọi là một yếu tố nguy cơ. Có một yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ bị ung thư; không có các yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ không bị ung thư. Nói chuyện với bác sĩ của bạn nếu bạn nghĩ rằng bạn có thể có rủi ro. Mặc dù nguyên nhân của hầu hết các bệnh ung thư tuyến nước bọt không được biết, yếu tố nguy cơ bao gồm những điều sau đây:
Cao tuổi.
Các xét nghiệm kiểm tra độ đầu, cổ, và bên trong miệng được sử dụng để phát hiện (tìm) và chẩn đoán ung thư tuyến nước bọt. Dưới đây là các thủ tục sau đây có thể được sử dụng để tìm ra bệnh ung thư:
Khám sức khỏe và lịch sử: Một kỳ thi của cơ thể để kiểm tra các dấu hiệu chung về sức khỏe. Người đứng đầu, cổ, miệng, cổ họng và sẽ được kiểm tra các dấu hiệu của bệnh, như cục u hoặc bất cứ điều gì khác mà có vẻ không bình thường. Một lịch sử của những thói quen sức khỏe của bệnh nhân và bệnh tật qua và phương pháp điều trị cũng sẽ được thực hiện.
MRI (chụp cộng hưởng từ): Một thủ tục mà sử dụng một nam châm, sóng radio, và một máy tính để thực hiện một loạt các hình ảnh chi tiết của khu vực bên trong cơ thể. Thủ tục này cũng được gọi là hạt nhân hình ảnh cộng hưởng từ (NMRI).
CT scan (CAT scan): Một thủ tục mà làm cho một loạt các hình ảnh chi tiết của khu vực bên trong cơ thể, được chụp từ các góc độ khác nhau. Các hình ảnh được thực hiện bởi một máy tính kết nối với một máy x-ray. Một loại thuốc nhuộm có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc nuốt phải để giúp các cơ quan hoặc mô cho thấy rõ ràng hơn. Thủ tục này cũng được gọi là chụp cắt lớp vi tính, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cắt lớp trục vi tính.
PET scan (chụp cắt lớp phát xạ positron scan): Một thủ tục để tìm các tế bào khối u ác tính trong cơ thể. Một lượng nhỏ phóng xạ glucose (đường) được tiêm vào tĩnh mạch. Các máy quét PET xoay quanh cơ thể và làm cho một hình ảnh của nơi đang được sử dụng glucose trong cơ thể. Các tế bào khối u ác tính xuất hiện sáng trong bức tranh, vì họ là chủ động hơn và mất nhiều glucose hơn các tế bào bình thường.
Nội soi: Một thủ tục để nhìn vào các cơ quan và mô trong cơ thể để kiểm tra các khu vực bất thường. Đối với ung thư tuyến nước bọt, một ống nội soi được đưa vào miệng để nhìn vào miệng, cổ họng, và thanh quản. Một nội soi là một ống giống như dụng cụ mỏng với ánh sáng và một ống kính để xem.
Sinh thiết: Việc loại bỏ các tế bào hoặc mô để họ có thể được xem dưới kính hiển vi về bệnh học để kiểm tra các dấu hiệu của bệnh ung thư.
Fine chọc hút bằng kim (FNA) Sinh thiết: Việc loại bỏ các mô hoặc dịch sử dụng một cây kim mỏng. Một FNA là loại phổ biến nhất của sinh thiết sử dụng cho bệnh ung thư tuyến nước bọt.
Sinh thiết rạch: Việc loại bỏ các phần của một khối u hay một mẫu mô không giống bình thường.
Phẫu thuật: Nếu ung thư không thể được chẩn đoán từ các mẫu mô lấy ra trong một sinh thiết FNA hoặc sinh thiết rạch, khối lượng có thể được loại bỏ và kiểm tra các dấu hiệu của bệnh ung thư.
Bởi vì ung thư tuyến nước bọt có thể khó chẩn đoán, bệnh nhân nên hỏi phải có các mẫu mô được kiểm tra bởi một nghiên cứu bệnh học người có kinh nghiệm trong việc chẩn đoán ung thư tuyến nước bọt.

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 2 năm 2015

Sưng hạch bạch huyết có thể là ung thư máu

Ung thư máu có nhũng nguyên nhân, yếu tố, triệu chứng, chẩn đoán, điều trị như thế nào? Bệnh ung thư máu có thể xuất phát từ hai loại bạch cầu chính là tế bào lymphô hoặc tế bào tủy. Khi bệnh ảnh hưởng tới tế bào lymphô thì nó được gọi là bệnh ung thư tế bào máu dòng lymphô bào. Khi tế bào tủy bị ảnh hưởng thì loại ung thư này được gọi là ung thư tế bào máu dòng tủy. Ung thư bạch cầu xảy ra khi quá trình sản xuất với trật tự bình thường này bị gián đoạn sản sinh các tế bào tủy chưa trưởng thành, được gọi là sự bộc phát bạch cầu. Sự bộc phát này sẽ dồn ép các tế bào tủy bình thường và làm giảm các tế bào máu bình thường.
Các tế bào bạch cầu đóng vai trò quan trọng hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể trước sự xâm nhập của các loại virus và vi khuẩn. Do đó nếu các tế bào bạch cầu không hoạt động bình thường, cơ thể có nguy cơ bị nhiễm trùng nghiêm trọng dẫn tới tình trạng tử vong.
Các loại của ung thư bạch cầu

Bệnh bạch cầu cấp tính phát triển trong vòng vài ngày đến vài tuần. Bệnh xảy ra khi các tế bào bạch cầu chưa trưởng thành phát triển và phân chia không kiểm soát, nhưng không phát triển thành các tế bào bình thường. Các tế bào này không thể thực hiện chức năng thông thường của tế bào máu trắng, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Bởi vì cơ thể sản xuất quá nhiều tế bào bạch cầu dẫn tới tình trạng sụt giảm số lượng các tế bào hồng cầu và tiểu cầu, gây ra thiếu máu và rối loạn đông máu.
Bệnh bạch cầu mạn tính có thể tiến triển trong vòng vài tháng đến nhiều năm. Bệnh liên quan tới sự sản xuất quá mức các tế bào bạch cầu trưởng thành, nhưng các tế bào này không thể hoạt động như các tế bào bạch cầu bình thường.
Nguyên nhân
Hiện tại nguyên nhân ung thư máu vẫn chưa có kết luận gì, đây là vấn đề chưa được lý giải rõ ràng. Tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ nhất định được cho là có thể gây ung thư bạch cầu.
Có tiền sử thực hiện hóa trị hoặc xạ trị.
Tiếp xúc với xạ trị liều cao hoặc benzen (có trong xăng pha chì, khói thuốc lá, các cở sở sản xuất hóa chất).
Gia đình có người thân đã từng mắc bệnh ung thư bạch cầu.
Rối loạn về di truyền, chẳng hạn như hội chứng Down hoặc thiếu máu Faconi.
Rối loạn máu, chẳng hạn như hội chứng myelodysplastic có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư bạch cầu.
Ung thư bạch cầu bao gồm 4 loại chính sau:
Bệnh bạch cầu lymphotic cấp tính hay còn gọi là ung thư bạch cầu lympho ác tính(ALL): là hình thức phổ biến nhất của bệnh bạch cầu ở trẻ em. Bệnh xảy ra khi các tế bào bạch cầu được gọi là tế bào lympho được sản sinh không kiểm soát, dẫn tới sự biểu hiện quá mức của các tế bào lympho chưa trưởng thành, gây trở ngại cho việc sản xuất hồng cầu và tiểu cầu.
Bệnh bạch cầu lymphotic mạn tính (CLL): thường gặp ở những người từ 55 tuổi trở lên và nguy cơ mắc bệnh ở đàn ông gấp đôi phụ nữ. Bệnh tiến triển chậm hơn so với bệnh bạch cầu lympho cấp tính.
Bệnh bạch cầu myeloid cấp tính (AML): là hình thức phổ biến nhất của bệnh bạch cầu cấp tính ở người lớn. Bệnh gây ra sự sản xuất không kiểm soát được của một loại tế bào bạch cầu được gọi là myelocytes, dẫn tới sự phát triển quá mức của các tế bào chưa trưởng thành myeloblasts, ảnh hưởng tới hoạt động của các tế bào hồng cầu, tiểu cầu và các tế bào bạch cầu bình thường khác.
Bệnh bạch cầu tủy mạn tính (CML): thường xảy ra ở người cao tuổi và rất hiếm gặp ở trẻ em. Bệnh được xác định là có liên quan tới nhiễm sắc thể Philadelphia.
Triệu chứng ung thư máu
Sốt hoặc đổ mồ hôi ban đêm có thể là triệu chứng của ung thư bạch cầu.
Sưng hạch bạch huyết và thường không đau (đặc biệt là các hạch bạch huyết ở cổ hoặc nách).
Sốt hoặc đổ mồ hôi đêm.
Nhiễm trùng thường xuyên.
Chướng bụng do lá lách to.
Sốt và đổ mồ hôi ban đêm.
Dễ chảy máu và bầm tím (chảy máu nướu răng, vết thương lâu lành trên da, hoặc xuất hiện những nốt nhỏ dưới da).
Giảm cân hoặc chán ăn không có lý do.
Đau ở xương hoặc khớp.
Cảm thấy yếu và mệt mỏi.

ung thư máu có thể điều trị như thế nào

Điều trị ung thư máu như thế nào? Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn thông tin cần thiết. Khi nói đến việc quyết định về điều trị tốt nhất, tất cả phụ thuộc là loại ung thư máu bạn có, làm thế nào nâng cao và tích cực là nó và sức khỏe nói chung của bạn. Bác sĩ của bạn sẽ cho thấy quá trình hiệu quả nhất điều trị cho bạn. Phương pháp điều trị thông thường là hóa trị, xạ trị, và trong một số trường hợp, một tế bào gốc hay ghép tủy xương.
 Hóa trị liệu là gì? Hóa trị liệu bao gồm việc uống thuốc phá hủy các tế bào ung thư, hy vọng việc đưa nó vào thuyên giảm đáng kể hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh. Có rất nhiều loại thuốc hóa trị liệu và họ làm việc theo những cách khác nhau. Đôi khi bác sĩ sẽ kê toa một loại thuốc duy nhất, nhưng thường họ sẽ khuyên bạn nên kết hợp hai hoặc nhiều hơn, vì họ thường làm việc tốt hơn với nhau. Hóa trị có thể được sử dụng riêng của nó, nhưng nó thường được kết hợp với các phương pháp điều trị khác như xạ trị. Hóa trị liệu được thiết kế để tấn công các tế bào đang phát triển và nhân rộng. Đó là bởi vì các tế bào ung thư phát triển và nhân nhanh hơn so với các tế bào khỏe mạnh. Một số tế bào lành mạnh có thể bị bắt trong một trận đụng độ, vì chúng cũng có thể được phát triển và phân chia nhanh chóng. Điều này có thể gây ra các tác dụng phụ như buồn nôn, mệt mỏi và rụng tóc. Nếu bạn đang chuẩn bị sẵn sàng cho một tế bào gốc, ghép tủy xương hoặc máu dây, bạn cũng sẽ cần hóa trị liệu để ngăn chặn hệ thống miễn dịch của bạn và ngăn chặn nó tấn công các tế bào mới 'ngoại' của các nhà tài trợ của bạn. Điều này được gọi là liệu pháp điều trị. 

Trước khi tiến hành điều trị thì việc chẩn đoán ung thư  máu cần được thực hiện ngay khi phát hiện triệu chứng bất thường.
Xạ trị là gì? Xạ trị hoạt động bằng cách sử dụng năng lượng cao X-quang để tiêu diệt tế bào ung thư. Để có được hiệu quả, các bác sĩ cần phải cung cấp một lượng chất phóng xạ, nhắm vào các khu vực bên phải của cơ thể. Đó là lý do tại sao bạn nhận được xạ trị tại các trung tâm chuyên khoa nơi các bác sĩ, các nhà vật lý và radiographers làm việc cùng nhau. Họ thường sẽ sử dụng một máy tính được gọi là một "gia tốc tuyến tính 'để điều trị. Xạ trị có thể điều trị một số loại bệnh bạch cầu và ung thư hạch. Các bác sĩ cũng có thể sử dụng nó để chuẩn bị một bệnh nhân cho một tế bào gốc, ghép tủy xương hay ghép tủy máu như là một phần của các liệu pháp điều. Một liều bức xạ thấp sẽ làm giảm hệ thống miễn dịch của một ai đó, vì vậy họ ít có khả năng từ chối các tế bào của nhà tài trợ. Các loại xạ trị bạn có thể có trước khi cấy ghép tế bào gốc được gọi là chiếu xạ cơ thể hoặc TBI và điều này có nghĩa nó ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Xạ trị cũng có thể gây tổn hại các tế bào bình thường, mà có thể gây ra tác dụng phụ. Những thay đổi rất nhiều cho mỗi người; một số triệu chứng nhẹ trải qua như mệt mỏi trong khi đối với những người khác nó có thể suy nhược hơn. Những tác dụng phụ thường sẽ trôi qua trong vòng một vài tuần của các kết thúc điều trị. 
Khi xạ trị kết thúc, hầu hết các tế bào khỏe mạnh của cơ thể sẽ tiếp tục tăng trưởng trở lại bình thường. Nhưng xạ trị có thể có tác dụng phụ lâu dài. Tìm hiểu thêm Hỗ trợ ung thư Macmillan đã có rất nhiều thông tin về các loại khác nhau của bệnh ung thư, điều trị và cách để quản lý các tác dụng phụ của họ. Cộng đồng ghép của chúng tôi là một nơi mà bạn có thể kết nối với những người đã có kinh nghiệm về tế bào gốc và tủy xương cấy Chúng tôi có nhiều thông tin bạn có thể tải về, đọc như một ebook, hoặc đặt hàng trực tuyến ở đây

Ung thư máu và những điều cần biết về tế bào

Ung thư máu ảnh hưởng đến sản xuất và chức năng của các tế bào máu của bạn. Hầu hết các bệnh ung thư bắt đầu trong tủy xương của bạn, nơi máu được sản xuất. Tế bào gốc trong tủy xương của bạn trưởng thành và phát triển thành ba loại tế bào máu: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu hay. Trong hầu hết các bệnh ung thư máu, quá trình phát triển tế bào máu bình thường bị gián đoạn bởi sự tăng trưởng không kiểm soát được của một loại bất thường của các tế bào máu. Những tế bào máu bất thường, hoặc các tế bào ung thư, ngăn chặn máu từ thực hiện nhiều chức năng của mình, giống như chiến đấu với bệnh nhiễm trùng hoặc ngăn ngừa chảy máu nghiêm trọng.
Jump To:
Các tế bào ung thư so với các tế bào khỏe mạnh
Có ba loại chính của bệnh ung thư máu:
Bệnh bạch cầu, một loại ung thư được tìm thấy trong máu của bạn và tủy xương, được gây ra bởi việc sản xuất nhanh chóng của các tế bào máu trắng bất thường. Số lượng cao của các tế bào máu trắng bất thường không có khả năng chống nhiễm trùng, và họ làm suy yếu khả năng của tủy xương để sản xuất các tế bào máu đỏ và tiểu cầu.

Lymphoma là một loại ung thư máu có ảnh hưởng đến hệ bạch huyết, loại bỏ các chất lỏng dư thừa ra khỏi cơ thể của bạn và tạo ra các tế bào miễn dịch. Lympho là một loại tế bào máu trắng chống nhiễm trùng. Lympho bất thường thành tế bào ung thư hạch, mà nhân và thu thập trong các hạch bạch huyết và các mô khác. Theo thời gian, các tế bào ung thư làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn.
U tủy là một bệnh ung thư của các tế bào plasma. Tế bào plasma là các tế bào máu trắng sản xuất kháng bệnh và chống nhiễm trùng trong cơ thể của bạn. Tế bào myeloma ngăn chặn việc sản xuất bình thường của kháng thể, để lại hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy yếu và dễ bị nhiễm trùng.
Tôi có thể tìm thêm thông tin?
Nếu bạn thấy rằng bạn quan tâm đến việc tìm hiểu thêm về bệnh ung thư máu và rối loạn, đây là một số tài nguyên khác có thể giúp đỡ một số:
Kết quả của nghiên cứu lâm sàng đăng trong máu
Tìm kiếm Blood, tạp chí chính thức của ASH, cho kết quả của các nghiên cứu mới nhất của máu. Trong khi bài báo gần đây nói chung là yêu cầu đăng nhập thuê bao, bệnh nhân quan tâm xem một bài báo truy cập kiểm soát trong máu có thể có được một bản sao của e-mail yêu cầu đến Văn phòng xuất bản Blood.


Nguyên nhân ung thư vú nam

Nam giới cũng có thể mắc ung thư vú như ở phụ nữ, mặc dù tỷ lệ này là rất nhỏ. Nguyên nhân gây bệnh vẫn còn là điều chưa được giải thích rõ ràng, tuy nhiên các nhà khoa học đã tìm thấy một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở nam giới.
Sau đây là một số yếu tố có liên quan tới ung thư vú ở nam giới:
Tuổi tác
Tuổi tác là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong sự phát triển của bệnh ung thư vú ở nam giới. Cụ thể nguy cơ mắc ung thư vú tăng dần theo tuổi tác. Độ tuổi trung bình được chẩn đoán bị ung thư vú ở đàn ông là 68.
Tiền sử gia đình mắc ung thư vú
Nguy cơ ung thư vú ở nam giới tăng lên nếu các thành viên trong gia đình đã từng bị ung thư vú.
3. Đột biến gen di truyền
Những người đàn ông mang gen đột biến BRCA2 có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư vú. Gen đột biến BRCA1 cũng có thể gây ra bệnh ung thư vú ở nam giới nhưng có nguy cơ thấp hơn.
Các gen đột biến CHEK2 và PTEN cũng có thể liên quan tới một số trường hợp bị ung thư vú ở nam giới.
Hội chứng Klinefelter
Hội chứng Klinefelter là một rối loạn di truyền do người nam có thừa một nhiễm sắc thể giới tính X. Đây là rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thường gặp nhất, với tỷ lệ 1/500. Đa phần, các bệnh nhân mắc chứng Klinefelter vẫn phát triển bình thường khi còn nhỏ. Đến tuổi dậy thì, người ta mới có những dấu hiệu bất thường thì việc chữa trị đã tương đối muộn. Với bệnh này, bệnh nhân có lông trên cơ thể thưa thớt, ngực có thể nở nang, thậm chí không thua gì ngực phái nữ. Trong khi đó, dương vật, tinh hoàn nhỏ hơn bình thường. Người cao, ốm, tay, chân dài. Hậu quả của hội chứng này là nam giới sẽ bị vô sinh và giảm ham muốn tình dục.
So với những người đàn ông khác, họ có nồng độ androgen (nội tiết tố nam) thấp hơn nhưng lại có nồng độ estrogen (nội tiết tố nữ) cao hơn. Vì lý do này, họ thường phát triển bệnh gynecomastia (vú to ở nam giới).
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người bị chứng Klinefelter có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn so với người bình thường.
Tiếp xúc với bức xạ
Nam giới đã từng xạ trị vùng ngực (như điều trị ung thư hạch hay còn gọi là lymphoma), có nhiều nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú.
Mắc bệnh gan
Những người bị bệnh gan nặng như xơ gan, có nồng độ androgen thấp và nồng độ estrogen cao hơn bình thường. Họ có nguy cơ cao mắc bệnh gymnecomastia (vú to ở nam) và cũng có nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú.
Điều trị estrogen
Thuốc có chứa estrogen từng được sử dụng trong liệu pháp điều trị nội tiết tố cho nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt. Phương pháp điều trị này có thể làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú ở nam.
Có lo ngại cho rằng những người chuyển giới, sử dụng liều cao estrogen để duy trì nội tiết tố nữ trong cơ thể, cũng có nguy cơ mắc ung thư vú. Tuy nhiên vẫn chưa có một nghiên cứu nào về nguy cơ ung thư vú ở những người chuyển giới, do đó vấn đề này cần phải được nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ thêm.
Béo phì
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ ung thư vú ở nữ giới tăng lên khi họ bị béo phì, thừa cân sau mãn kinh. Béo phì cũng là yếu tố nguy cơ gây ung thư vú ở nam giới. Nguyên nhân là do các tế bào chất béo trong cơ thể chuyển hóa nội tiết tố nam (androgen) thành nội tiết tố nữ (estrogen). Điều này có nghĩa là những người đàn ông béo phì có nồng độ estrogen trong cơ thể rất cao, thúc đẩy sự phát triển của ung thư vú.
Do đó luyện tập thể dục thường xuyên có thể giảm nguy cơ ung thư vú cũng như các loại bệnh khác.
Ngành nghề, công việc
Một số báo cáo cho thấy nguy cơ ung thư vú gia tăng ở những người đàn ông làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao như nhà máy thép. Tiếp xúc với nhiệt độ cao trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến tinh hoàn, từ đó tác động tới nồng độ hormone.
Đàn ông tiếp xúc nhiều với xăng dầu cũng có nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú. Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ nhận định này.
Ung thư vú không phân biệt giới tính, có thể xảy ra ở cả nam và nữ. Do đó nam giới không nên chủ quan, khi phát hiện thấy những bất thường ở vú cần tới ngay các cơ sở chuyên khoa để được kiểm tra và điều trị kịp thời.

Biểu hiện ung thư vú nam có thể là ở kích thước vú

Ung thư vú nam giới rất hiếm gặp nhưng lại có tỷ lệ tử vong khá cao do bệnh thường được phát hiện muộn, dẫn tới tình trạng khó khăn trong việc điều trị.  Các hạch bạch huyết có thể được đặt dưới cánh tay, được gọi là các hạch bạch huyết ở nách, dưới xương ức hoặc ngực xương, được gọi là các hạch bạch huyết trung thất, hoặc chỉ trên xương đòn, được gọi là các hạch bạch huyết thượng đòn. Ung thư vú lây lan khi các tế bào ung thư vú di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể thông qua các mạch máu và các mạch bạch huyết. Được gọi là di căn. Ung thư vú phổ biến nhất lây lan đến các hạch bạch huyết khu vực.Khi bệnh lây lan hơn nữa thông qua cơ thể, nó thường được lây lan đến xương, phổi và gan. Rất hiếm trường hợp ung thư vú có thể lây lan đến não. Phát hiện sớm ung thư vú ở sẽ góp phần nâng cao cơ hội điều trị thành công cho người bệnh.
1. Sự khác biệt ảnh hưởng tới việc phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ và nam giới
Có nhiều điểm tương đồng giữa ung thư vú ở phụ nữ và nam giới, tuy nhiên vẫn có những khác biệt quan trọng ảnh hưởng tới việc phát hiện bệnh sớm.
Kích thước vú

Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa tuyến vú của nam và nữ là kích thước. hiện nhưng lại có mức độ lây lan nhanh chóng hơn. Phần lớn các ca ung thư vú ở nam giới được phát hiện khi các tế bào ung thư đã lây lan sang các mô lân cận hoặc các hạch bạch huyết. Bởi vì mô vú ở đàn ông ít nên việc phát hiện những triệu chứng bất thường như có khối u ở vú dễ dàng hơn so với phụ nữ. Ngoài ra ung thư cũng sẽ nhanh chóng lan tới núm vú, vùng da ở vú hoặc các cơ bên dưới ngực hơn. Vì vậy mặc dù khối u vú ở nam giới thường có kích thước nhỏ hơn so với ở phụ nữ khi được phát
Mức độ lây lan là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong tiên lượng của ung thư vú.
Thiếu hiểu biết
Phụ nữ có nhận thức tương đối đầy đủ về ung thư vú và các dấu hiệu cảnh báo nguy cơ mắc bệnh, trong khi đó nam giới lại khá mơ hồ về vấn đề này. Nhiều người bỏ qua khi phát hiện thấy có khối u ở vú hoặc nghĩ rằng đó là do nhiễm trùng. Do chủ quan không tới bệnh viện để được kiểm tra kịp thời nên khi được phát hiện, phần lớn các ca ung thư vú nam đã tiến triển đến giai đoạn cuối.
Một số trường hợp còn có tâm lý xấu hổ, ngại ngùng khi phát hiện thấy khối u vú. Điều này dẫn tới tình trạng chẩn đoán chậm và làm giảm cơ hội điều trị thành công của người bệnh.
2. Đối với nam giới có nguy cơ cao phát triển bệnh ung thư vú
Với các đối tượng có tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc/và mang đột biến BRCA1/ BRCA2 nên thực hiện tầm soát ung thư vú định kỳ hàng năm.
Chụp X quang tuyến vú là một kỹ thuật chẩn đoán ung thư vú nam bằng hình ảnh được sử dụng phổ biến trong tầm soát ung thư vú. Chụp X quang tuyến vú có thể giúp phát hiện cả những tổn thương nhỏ nhất ở vú.
Những người nằm trong nhóm có nguy cơ ung thư vú cao nên tham khảo ý kiến của bác sĩ để tìm ra các biện pháp hạn chế rủi ro phát triển bệnh.
3. Tư vấn di tuyền và các xét nghiệm kiểm tra
Những người có tiền sử gia đình mắc ung thư vú và/hoặc ung thư buồng trứng do đột biến gen BRCA, nên thực hiện xét nghiệm di truyền để xác định xem liệu bản thân họ có mang gen đột biến BRCA hay không. Nếu kết quả kiểm tra phát hiện thấy có gen đột biến BRCA, cần phải hết sức chú ý khi xuất hiện những triệu chứng bất thường cần tới ngay các cơ sở chuyên khoa để được kiểm tra và điều trị kịp thời.

Phương pháp điều trị phẫu thuật được tiến hành như thế nào

Phương pháp điều trị phẫu thuật được tiến hành như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thêm thông tin chô bạn được.
Trong ung thư tế bào máu cấp, các tế bào bất thường là các nguyên bào còn rất non và không thể thực hiện chức năng bình thường của mình. Số lượng nguyên bào tăng lên rất nhanh và bệnh xấu đi nhanh chóng. Trong bệnh ung thư tế bào máu mạn tính, một số nguyên bào xuất hiện, nhưng nói chung những tế bào này có độ trưởng thành cao hơn và có thể thực hiện được một số chức năng bình thường của chúng. Việc chẩn đoán ung thư tuyến nước bọt quyết định được cách điều trị mang lại kết quả, nhưng việc chẩn đoán như thế nào? Bài này sẽ cung cấp cho bạn cách chẩn đoán: Để chẩn đoán bệnh ung thư tuyến nước bọt, trước tiên bác sỹ khám hàm, cổ và họng để tìm một hột cộm hoặc một chỗ sưng. Chẩn đoán hình ảnh với máy MRI và CT giúp đánh giá kích thước và vị trí khối u. Để lấy mẫu thử (sinh thiết) bác sỹ dùng cây kim nhỏ đưa vào vùng nghi nghờ rồi hút lấy chất dịch hoặc tế bào.
Ung thư quay trở lại trong các phần xa của cơ thể thường được điều trị bằng hóa trị. Trong trường hợp chọn lọc, phương pháp điều trị khác như phẫu thuật hoặc xạ trị có thể được sử dụng để giúp làm giảm các triệu chứng của sự lây lan của bệnh ung thư. Bởi vì các bệnh ung thư có thể được khó khăn để điều trị, các thử nghiệm lâm sàng của phương pháp điều trị mới có thể là một lựa chọn tốt. Phẫu thuật điều trị ung thư tuyến nước bọt, phẫu thuật cho bệnh ung thư tuyến nước bọt có thể bao gồm:


- Loại bỏ một phần của tuyến nước bọt bị ảnh hưởng. Nếu ung thư nhỏ và nằm trong tại một chỗ dễ dàng truy cập, bác sĩ phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u và một phần nhỏ các mô xung quanh nó.
- Loại bỏ toàn bộ các tuyến nước bọt. Nếu một khối u lớn hơn, bác sĩ có thể khuyên nên loại bỏ toàn bộ tuyến nước bọt. Nếu ung thư mở rộng những cấu trúc gần đó – chẳng hạn như các dây thần kinh mặt, các ống dẫn mà kết nối các tuyến nước bọt, xương mặt và da – những điều này cũng có thể được gỡ bỏ.
- Loại bỏ các hạch bạch huyết ở cổ. Nếu có bằng chứng cho thấy ung thư tuyến nước bọt đã lan đến các hạch bạch huyết ở cổ, bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ hầu hết các hạch bạch huyết ở cổ. Cổ mổ xẻ có thể bao gồm loại bỏ các cơ khác và dây thần kinh ở cổ. Điều này có thể gây tê mặt, tai, cổ và vai.
- Phẫu thuật tái tạo. Nếu xương, da hoặc dây thần kinh bị loại bỏ trong quá trình phẫu thuật, có thể cần phải được sửa chữa hoặc thay thế bằng phẫu thuật tái tạo. Trong khi phẫu thuật tái tạo, một bác sĩ phẫu thuật sửa chữa cải thiện khả năng nhai, nuốt, nói hay thở sau khi phẫu thuật. Có thể cần phải ghép mô, da hoặc dây thần kinh từ các bộ phận khác của cơ thể để xây dựng lại các khu vực ở cổ họng, miệng hoặc hàm.
Tuyến nước bọt phẫu thuật có thể khó khăn vì một số dây thần kinh quan trọng đặt trong và xung quanh các tuyến. Ví dụ, một dây thần kinh ở mặt điều khiển chuyển động trên mặt chạy qua tuyến mang tai. Loại bỏ các khối u có liên quan đến dây thần kinh quan trọng có thể làm hư hỏng các dây thần kinh, gây liệt một phần của khuôn mặt. Bác sĩ phẫu thuật chăm sóc để bảo vệ các dây thần kinh bất cứ khi nào có thể. Trong một số trường hợp, các dây thần kinh bị cắt đứt có thể được sửa chữa với các dây thần kinh lấy từ các khu vực khác của cơ thể.

Nguồn tham khảo: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-tuyen-nuoc-bot.apsx

Khám chuyên sâu để phát hiện được bệnh ung thư đầu cổ

Để phòng ngừa các bệnh ung thư vùng đầu cổ cần tránh hay hạn chế tối đa các yếu tố trên trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể: Tránh để da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng gay gắt (nên sử dụng nón rộng vành, kem chống nắng để bảo vệ da). Những người bị ung thư đầu và cổ thường gặp các triệu chứng hoặc dấu hiệu sau đây. Đôi khi, những người có đầu và ung thư cổ không hiển thị bất kỳ những triệu chứng này. Hoặc, các triệu chứng có thể được gây ra bởi một điều kiện y tế mà không phải là ung thư.
Sưng hoặc đau không thể chữa lành, các triệu chứng ung thư đầu cổ thường gặp nhất
Miếng vá màu đỏ hoặc màu trắng trong miệng
Khối u, vết sưng, hoặc khối lượng trong khu vực đầu và cổ, có hoặc không đau
Đau họng dai đẳng
Mùi hôi miệng không được giải thích bằng cách vệ sinh
Khàn tiếng hay thay đổi giọng nói
Tắc mũi hoặc nghẹt mũi dai dẳng
Mũi thường xuyên chảy máu và / hoặc chảy nước mũi bất thường

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 2 năm 2015

Tiềm ẩn từ quan hệ hệ bằng miệng bạn nên biết

Nghiên cứu mới đây cho thấy hành động quan hệ tình dục qua đường miệng (khẩu dâm) cũng có nguy cơ cao gây nên căn bệnh quái ác này, ung thư vòm miệng gây ra chủ yếu bởi chủng vi-rút HPV 16 và 18, chủng vi-rút HPV gây bệnh ở đường sinh dục chỉ đứng sau chlamydia. Trong quá khứ, thuốc lá được xếp là nguyên nhân hàng đầu gây nên căn bệnh ung thư vòm họng nhưng các nghiên cứu gần đây tiết lộ. Nếu như trong quá khứ ung thư vòm họng là một căn bệnh còn khá xa lạ với nhiều người thì khoảng một vài năm trở lại đây, chúng ta đã không còn quá ngạc nhiên với sức tàn phá kinh khủng của nó. Theo số liệu thống kê từ Mỹ, số bệnh nhân mắc ung thư vòm họng là 8/1 triệu dân số thì đến năm 2004, con số này đã gia tăng thành 26/1 triệu.
Ở Việt Nam, gần đây việc nam người mẫu Duy Nhân bị chẩn đoán ung thư vòm họng đã dấy lên một hồi chuông cảnh báo về nguy cơ cao bị phơi nhiễm HPV trong giới trẻ. Trên thực tế, chúng ta đang trên đà hội nhập với nền văn minh thế giới nên rõ ràng, quan niệm tình yêu cũng như tình dục của một bộ phận không nhỏ giới trẻ có phần thoáng hơn. Nhiều cặp đôi cho rằng, 'yêu bằng miệng' là biện pháp tốt nhất vừa củng cố mối quan hệ lại vẫn có thể 'giữ cho nhau' mà không lo ngại mang thai ngoài ý muốn.



Tuy nhiên, oral sex không hề an toàn như chúng ta thường nghĩ. Việc quan hệ tình dục qua đường miệng tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) như lậu, giang mai, u nhú, sùi mào gà… Đặc biệt, nguy cơ ung thư vòm họng sẽ đặc biệt ở mức báo động đỏ, lên đến 340%, ở những người quan hệ bằng miệng với 6 bạn tình trở lên.
Một điều các nhà khoa học chưa thể lý giải đó là tỷ lệ mặc bệnh ung thư vòm họng ở đàn ông luôn cao hơn phụ nữ. Một nạn nhân nổi tiếng đã từng thừa nhận bị ung thư vòm họng do oral sex quá nhiều là nam tài tử Hollywood Michael Douglas. Trong bài phỏng vấn với tờ The Guardian, ông thẳng thắn: 'Tôi đã lo rằng việc quá căng thẳng do chuyện của con trai khiến mình mắc bệnh. Thế nhưng, chính căn bệnh lây nhiễm tình dục mới là nguyên nhân'. Đến thời điểm hiện tại, sau khi được hóa trị nam diễn viên đã hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh quái ác nhưng vẫn phải kiểm tra định kỳ 6 tháng 1 lần.
Khi quan hệ tình dục bằng miệng, nếu bạn tình bị nhiễm HPV thì bạn có nguy cơ lây bệnh tương đối cao, xấp xỉ khoảng 90%. Tuy nhiên, cần lưu ý không phải ai có vi-rút HPV trong người đều phát triển thành ung thư ngay lập tức mà vi-rút sẽ sống tiềm tàng trong cơ thể, đợi hệ miễn dịch suy yếu mới gây bệnh.
Biện pháp an toàn khi 'yêu bằng miệng'
Tài tử Michael Douglas đã rất may mắn khi được điều trị ung thư vòm họng khỏi bệnh (Ảnh: CBS)
Chỉ nên quan hệ tình dục bằng miệng với những người thực sự tin tưởng và tốt nhất không nên quan hệ với nhiều bạn tình.
Từ chối oral sex nếu phát hiện bạn tình có triệu chứng viêm nhiễm, có mụn, lở loét ở vùng kín.
Có thể bảo vệ bản thân bằng bao cao su hoặc màng chắn miệng.
Đặc biệt lưu ý, sau khi oral sex thì không nên đánh răng vì nó sẽ tạo vết xước khiến vi-rút lây lan dễ dàng. Theo lời khuyên từ các chuyên gia y tế thì chỉ nên súc miệng bằng dung dịch sát khuẩn hoặc nước muối sinh lý.
Thanh thiếu niên, đặc biệt là nam giới nên tầm soát ung thư vòm họng 6 tháng/lần và tiêm chủng vắc-xin để ngăn ngừa các bệnh do vi-rút HPV gây ra.
Xem thêm tại đây: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-vom-hong/mot-so-nguyen-nhan-gay-benh-ung-thu-vom-hong.aspx

Phát hiện sớm ung thư hắc tố tỉ lệ sống tăng cao

Ung thư hắc tố là khối u ác tính của tế bào (melanocyte) sản xuất ra sắc tố đen (melanin), tế bào này chủ yếu phân bố ở da, ngoài ra có thể thấy ở mắt, tai, cơ quan tiêu hóa, tế bào não, và niêm mạc miệng, sinh dục. Ung thư hắc tố chiếm khoảng 5% các ung thư da; tuy nhiên, đây là khối u gây tử vong cao nhất (75%) trong số các ung thư da trên thế giới. Do vậy, chẩn đoán và phát hiện sớm sẽ làm tăng thời gian sống và giảm tỷ lệ tử vong.
1. Các triệu chứng gợi ý chẩn đoán.
Ung thư hắc tố có thể xuất hiện bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, tỉ lệ trên da là hơn 90%, ngoài ra còn các vị trí khác như võng mạc mắt, màng não, đại trực tràng. Triệu chứng ung thư hắc tố điển hình là sự thay đổi tính chất của nốt ruồi cũ, một tổn thương sắc tố cũ hoặc ngay trên nền da thường.
Những triệu chứng này được đánh giá theo mức độ từ nhiều đến ít chia thành 3 nhóm:
- Nhóm triệu chứng có giá trị gợi ý tầm cao:
+ Thay đổi về kích thước: các nốt ruồi cũ to ra nhanh chóng, những nốt ruồi có đường kính lớn hơn 6 minimeter ,các vùng da bất thường xuất hiện nhanh, có xu hướng lan rộng, đều là những biếu hiện bất thường cần được chú ý.



+ Thay đổi về màu sắc: các nốt ruồi thường có một màu nâu hoặc đen. Nốt ruồi độc thường có nhiều màu sắc khác nhau và không đều màu.
- Nhóm triệu chứng có giá trị gợi ý tầm trung:
+ Phản ứng viêm tấy.
+ Xuất hiện bong chóc, chảy máu.
+ Biến đổi dày sừng.
- Nhóm triệu chứng có giá tri gợi ý tầm thấp:
+ Mất tính đối xứng: Một nốt ruồi lành thường cân xứng, nếu phát hiện hình dạng nốt ruồi không cân xứng thì nên nghi ngờ là nốt ruồi độc melanoma.
+ Tổn thương nhô cao trên bề mặt da.
+ Thay đổi về bờ của thương tổn.
2. Các phương pháp chẩn đoán bệnh ung thư hắc tố.
Khi cơ thể xuất hiện các triệu chứng trên người bệnh cần đi thăm khám ngay để có kết quả và hướng điều trị tích cực nhất. Một số phương pháp chẩn đoán ung thư hắc tố thường được sử dụng hiện nay là:
- Khám toàn thân kỹ lưỡng.
- Áp lam kính trên tổn thương nếu xuất hiện sùi loét.
- Sinh thiết nhiều mảnh vỡ ở bờ tổn thương( trong trường hợp nghi ngờ ung thư hắc tính cần tránh ấn mạnh, day nắn tổn thương, tránh chọc kim sinh thiết vì dễ làm tế bào ung thư bong ra gây di căn).
- Tiến hành xét nghiệm đánh giá di căn: Nếu bệnh nhân bị nghi ngờ ung thư hắc tố sẽ được tiến hành chụp X-Quang, chụp cắt lớp vi tính CT, MRI để có kết quả chính xác nhất.
Xem nguồn của bài viết tại đây: http://ungbuouhv.blogspot.com/2015/02/chan-doan-ung-thu-hac-to-co-trieu-chung.html

cấy ghép tế bào gốc tạo máu phổ biến cho bệnh ung thư máu

Bệnh ung thư máu  thường khó phát hiện khi ở giai đoạn đầu. Các bác sỹ khuyên bạn nên đi khám khi cơ thể có các biểu hiện bất thường như thường xuyên đau nửa đầu, chóng mặt, tụt huyết áp, mất ngủ, cơ thể suy nhược. Phát hiện bệnh sớm giúp quá trình điều trị hiệu quả hơn, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Ung thư tế bào máu hay còn gọi là bệnh bạch cầu (bệnh máu trắng) là hiện tượng gia tăng đột biến số lượng bạch cầu trong máu. Bạch cầu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, tuy nhiên khi lượng bạch cầu trong máu quá lớn sẽ dẫn đến hiện tượng xâm lấn hồng cầu. Khi hồng cầu bị tiêu diệt gây ra hiện tượng thiếu máu, ung thư máu, nhiều trường hợp dẫn đến nguy cơ tử vong.



Ung thư máu là một căn bệnh nguy hiểm gây ra hàng triệu ca tử vong mỗi năm. Điều trị ung thư tế bào máu bằng kỹ thuật ghép tế bào gốc được đánh giá là một phương pháp mới và hiệu quả nhất trong điều trị căn bệnh này.
1. Ghép tế bào gốc tạo máu là gì?
Ghép tế bào gốc tạo máu hay thường được gọi ngắn gọn là phương pháp ghép tủy. Đây là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều trị các bệnh lý huyết học và ung thư học. Các bác sỹ tiến hành ghép tế bào gốc lấy từ tủy xương hoặc từ máu để ghép vào cơ thể người bệnh nhằm điều trị các bệnh lý huyết học, miễn dịch, di truyền và một số bệnh lý liên quan khác.
2. Lịch sử của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu?
Trong những thập kỷ trước những bệnh nhân mắc bệnh ung thư tế bào máu cơ hội sống xót gần như không có. Phương pháp ghép tủy ra đời như một “dấu cộng đỏ” cho bệnh nhân mắc căn bệnh ác tính này.
Ca cấy ghép đầu tiên được thực hiện vào năm 1965, tuy nhiên bệnh nhân đã tử vong sau 20 ngày thực hiện cấy ghép.
Ước tính đến năm 2000 cả thế giới đã thực hiện thành công khoảng 500.000 ca cấy ghép mang lại sự sống cho hàng triệu bệnh nhân.
3. Một số phương pháp cấy ghép tế bào gốc tạo máu phổ biến cho.
- Phương pháp cấy ghép tế bào gốc tự thân: Các tế bào được lấy từ cơ thể bệnh nhân đi nuôi cấy trong môi trường đặc biệt rồi được ghép trở lại cơ thể người bệnh.
- Phương pháp cấy ghép tế bào dị thân: Các tế bào cấy ghép được lấy từ một cơ thể khác đi nuôi cấy và đem ghép vào cơ thể bệnh nhân. Ưu điểm của phương pháp này là các tế bào khỏe mạnh, hạn chế tối đa nguy cơ nhiễm bệnh từ tế bào cũ. Tuy nhiên phương pháp này cũng mang lại rủi do cao, nếu tế bào ghép không tương đồng thì nguy cơ tử vong cao.
- Phương pháp ghép từ tế bào máu ngoại vi: Phương pháp này được chỉ định trong các trường hợp tủy của bệnh nhân nghi ngờ nhiễm tế bào ung thư, hoặc phương pháp nuôi cấy tế bào tủy xương thất bại. Thực hiện phương pháp này các bác sỹ sẽ tiến hành huy động và tách chiết tế bào bằng các thiết bị hiện đại sau đó sẽ được đưa vào cơ thể bệnh nhân.

Phát hiện gen đột biến gây bệnh ung thư tinh hoàn

Bệnh ung thư tinh hoàn là loại bệnh khởi phát âm thầm nhưng bệnh tình rất nghiêm trọng, một khi phát hiện này mà không kịp thời điều trị tế bào ung thư sẽ phát triển và di căn rất nhanh, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh. Đến giai đoạn cuối sẽ có những di căn, khiến cho bệnh nhân có các triệu chứng gan sưng to, phù chân, hạch thượng đòn sưng to, và còn có thể dẫn đến đau lưng, ho, khó thở, không muốn ăn, buồn nôn, nôn mửa, đau nhức xương…Ung thư tinh hoàn khiến cho sinh dục giảm, có hiện tượng chết tinh trùng hoặc vô tinh trùng, thậm chí hoàn toàn mất đi khả năng sinh dục. Bệnh nhân ung thư tinh hoàn còn lây bệnh nhiễm trùng cho người quan hệ cùng, từ đó dẫn đến bệnh phụ khoa cho người phụ nữ quan hệ cùng đó.
Một công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Elizebeth Papley thuộc viện nghiên cứu ung thư Anh được đăng tải trên tạp chí Nature Genetics cho biết đã phát hiện gen đột biến gây bệnh ung thư tinh hoàn.
Các công trình nghiên cứu độc lập tại Mỹ và Anh đã tìm thấy 2 gen liên quan đến bệnh ung thư tinh hoàn giúp lý giải vì sao căn bệnh này có tính di truyền hay không đồng thời mở ra hướng xác định những đối tượng nào có nguy cơ mắc bệnh cao.



Sau một thời gian nghiên cứu các nhà khoa học đã đưa ra nhận định được (nguyên nhân ung thư tinh hoàn) nguy cơ mắc bệnh ung thư tinh hoàn từ đột biến gen. Những gen đột biến có một vòng xoắn bất thường, một phiên bản phổ biến của gen được gọi là KITLG gây hại rất lớn cho cơ thể và có nguy cơ phát triển thành tế bào ung thư.
Những nam giới có gen KITLG phổ biến được sao chép 2 lần tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư 4,5 lần so với những nam giới có phiên bản sao chép bình thường.Những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư tinh hoàn trong độ tuổi 15-45 tuổi. Theo ước tính tại Anh hàng năm có khoảng 2 000 người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tinh hoàn.
Những nam giới có gen KITLG ngoài có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư tinh hoàn còn gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt.
Các nhà khoa học thuộc Viện Sức Khỏe Quốc Gia Mỹ cũng phát hiện ra nguy một loại gen khác nguy cơ gây bệnh ung thư cao là gen PDE11A. Các nhà khoa học đã phân tích gen AND của 95 bệnh nhân mắc bệnh ung thư tinh hoàn và nhận thấy 7 đột biến trong gen PDE11A, ở những nam giới khỏe mạnh các nhà khoa học không phát hiện ra biến đổi ở gen này.
Đại diện nhóm nghiên cứu Tiến Sỹ Constantine Stratakis Trưởng khoa Nội Tiết và Di Truyền học thuộc Viện Sức khỏe trẻ em và sự phát triển cho biết “những đột biến gen này không trực tiếp gây ra bệnh ung thư nhưng sự xuất hiện của nó làm tăng mức độ nhạy cảm của khối u”.

Thời gian sống của ung thư vòm hòng như thế nào

Ung thư vòm họng tiến triển qua nhiều giai đoạn, vì thế , tùy vào từng giai đoạn cụ thể mà bác sĩ sẽ đưa ra quyết định xem bệnh nhân nên điều trị theo phương pháp nào. hiện nay chưa được các nhà khoa học xác định một cách chính xác. Tuy nhiên, khi bạn bị nhiễm virus Epstein-Barr, rất có thể virus đó có liên quan đến bệnh ung thư vòm họng, tuy rằng điều này chưa được chứng minh một cách đầy đủ. Trong một số trường hợp, các nhà nghiên cứu thấy có những mảnh ADN của virus Epstein-Barr kết hợp với ADN của tế bào trong vòm họng nhưng nhiều trường hợp khác, nhiễm virus Epstein-Barr lại phục hồi hoàn toàn.
Việc phát hiện sớm dấu hiệu ung thư vòm họng là một điều không dễ dàng, vì thường bệnh chỉ phát tác khi bệnh nhân đã nhiễm bệnh ở giai đoạn cuối. Mặc dù việc phát hiện ra bệnh là không dễ dàng nhưng bạn cũng cần có ý thức cảnh giác với bệnh, nên đi khám bác sỹ chuyên khoa tai mũi họng hoặc chuyên khoa ung bướu khi có các triệu chứng bất thường về tai mũi họng kéo dài mà điều trị thông thường không khỏi.
Triệu chứng ung thư vòm họng thường gặp gồm:

Thứ Năm, ngày 05 tháng 2 năm 2015

Ung thư tuyến nước bọt có thể xâm lấn các bộ phận khác

Ung thư tuyến nước bọt phát triển từ các tuyến nước bọt lớn (tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi) hoặc các tuyến nước bọt nhỏ nằm dưới niêm mạc đường hô hấp trên và đoạn trên ống tiêu hóa.Chuẩn đoán ung thư tuyến nước bọt:
Sinh thiết bằng kim hút nhỏ là một thủ thuật đơn giản có thể phân biệt tổn thương ung thư hay không ung thư; và nếu chẩn đoán là ung thư thì có thể tư vấn cho bệnh nhân và chuẩn bị cho bác sĩ ngoại khoa tiến hành phẫu thuật triệt để hơn, tức có thể phải cắt dây thần kinh mặt hoặc vét hạch cổ.
Độ chính xác của sinh thiết bảng kim hút phụ thuộc vào kinh nghiệm của người làm thủ thuật và kĩ năng phân tích kết quả của bác sĩ tế bào bệnh học. Với những chuyên gia có kinh nghiệm, độ nhạy chung để phát hiện tế bào ung thư là 87- 94% và độ đặc hiệu là 75-98%. Nếu kết quả sinh thiết bầng kim hút của tuyến nước bọt nghi ngờ là âm tính thì cần tiến hành sinh thiết triệt để.

Điều trị ung thư máu bằng cách cấy ghép cho hiệu quả cao

Điều trị ung thư tế bào máu bằng phương pháp cấy ghép tế bào gốc là thành tựu mới, mang lại hi vọng mới cho bệnh nhân và xã hội. Bệnh nhân mắc ung thư máu thường được điều trị bằng các phương pháp như hóa trị, xạ trị để kéo dài thời gian sống, nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc các đinh được bệnh cần phải được chẩn đoán ung thư màu bằng các phương pháp xét nghiệm, máy móc hiện đại, nhằm phát hiện sớm tình trạng bệnh và việc này nhằm có ảnh hưởng tới việc điều trị của bệnh. Đây là một loại bệnh nguy hiểm, tiên lượng bệnh xấu, chưa có thuốc đặc trị. . 
Tế bào gốc được lấy từ đâu?
Tế bào gốc tạo máu sẽ được lấy từ chính cơ thể người bệnh(tế bào gốc tự thân) hoặc từ bên ngoài(tế bào gốc dị thân).
- Tế bào gốc tự thân. Lấy tế bào của bệnh nhân để ghép trở lại cơ thể người bệnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân sử dụng phương pháp ghép tủy tự thân có khả năng tái phát bệnh do các tế bào còn sót lại trước quá trình ghép tủy.
Phương pháp ghép tế bào gốc là gì?
Ghép tế bào gốc tạo máu hay thường được gọi ngắn gọn là ghép tủy là một phương pháp điều trị bệnh được ứng dụng nhiều trong ngành huyết học và ung thư học. Phương pháp cấy ghép tế bào gốc tạo máu lấy từ tủy xương hoặc từ máu ghép vào cơ thể người bệnh để chữa các bệnh lý huyết học và một số bệnh lý ung thư khác.


- Tế bào gốc dị thân. Tế bào gốc được lấy ra từ cơ thể của người khỏe mạnh Tuy nhiên sự không tương hợp miễn dịch giữa mảnh ghép và người nhận có thể gây biến chứng tử vong khi sử dụng phương pháp ghép tế bào gốc dị thân.
Ưu điểm của phương pháp ghép tế gốc với một số phương pháp khác trong điều trị ung thư tế bào máu?
Nếu như so với các kỹ thuật cấy ghép trước đây chỉ được áp dụng cho những người có tính di truyền phù hợp hoàn toàn hoặc ít nhất phải phù hợp 80-90% thì ở kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu, người cho mảnh ghép tế bào gốc chỉ cần 50% gen phù hợp với người nhận là có thể áp dụng được kỹ thuật này.
Ai có thể được điều trị bằng phương pháp ghép tế bào gốc?
Phương pháp này thường được chỉ định cho những bệnh nhân ung thư máu có nguy cơ tái phát cao hoặc đã bị tái phát sau hoá trị, xạ trị. Bệnh nhân có đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện ca cấy ghép.
Đánh giá phương pháp ghép tế bào gốc trong điều trị ung thư máu?
Đây là một phương pháp mới trong điều trị ung thư máu nói riêng và một số loại ung thư khác, thêm hi vọng mới cho bệnh nhân và gia đình. Là hướng đi mới cho điều trị ung thư tế bào máu nói riêng và những căn bệnh ung thư nói chung.

Khi bệnh nhân có các biểu hiện như đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, cơ thể suy nhược, chán ăn, giảm trí nhớ…thì nên đến ngay các cơ sở chuyên khoa về ung bướu để được phát hiện và điều trị ung thư tế bào máu sớm nhất, tránh các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.
Xem nguồn tại đây: http://ungbuouhv.blogspot.com/2015/02/ung-thu-mau-duoc-dieu-tri-theo-cach-cay-ghep.html

Muốn biết ung thư đầu cổ thì nên đi khám ở đâu

Bệnh ung thư đầu cổ đó là căn bệnh quái ác cướp đi sinh mạng của nhiều người. Muốn biết ung thư đầu cổ thì nên đi khám ở đâu, thì bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho các bạn biết thêm thông tin về việc bị ung thư đầu cổ khám ở đâu.
“Không ai biết khi nào bệnh ung thư sẽ gõ cửa nhà bạn” đây là lời cảnh báo của các bác sỹ Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi.
Ung thư là nỗi sợ hãi của tất cả mọi người và phòng bệnh luôn là phương pháp được các chuyên gia của chúng tôi kêu gọi.
Ung thư đầu cổ là một bệnh lý thường gặp, tỉ lệ người mắc và tử vong vì căn bệnh này ngày một cao.
Một số phương pháp sau sẽ giúp bạn phòng được nguy cơ mắc bệnh tốt nhất.

Thứ Tư, ngày 04 tháng 2 năm 2015

Ung thư đại trực tràng co thể điều trị theo hướng nào

Điều trị ung thư đại trực tràng giai đoạn 3
Ở giai đoạn III của ung thư trực tràng, khối u đã xâm lấn vào các hạch bạch huyết lân cận nhưng chưa di căn những bộ phận khác của cơ thể. Đa số trường hợp, bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn III được chỉ định điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với xạ trị và hóa trị bổ trợ. Tỷ lệ mắc bệnh chỉ đứng sau ung thư dạ dày và thực quản. Loại ung thư ác tính này thường gặp ở các bộ phận của đại trực tràng ( chiếm khoảng 60%). Để hiểu rõ hơn về những nguy cơ của căn bệnh này, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây.
Nguy cơ gây ung thư đại trực tràng gồm: yếu tố di truyền, polyp đại tràng, viêm loét đại tràng lâu ngày. Chẩn đoán ung thư đại tràng bằng chụp đại tràng có cản quan hay nội soi đại trực tràng kèm sinh thiết giúp chẩn đoán xác định. Điều trị ung thư đại trực tràng gồm phẫu thuật (là phương pháp chủ yếu), xạ trị, hoá trị tuỳ thuộc vào vị trí, kích thước, mức độ lan rộng của ung thư cũng như tuổi tác và sức khoẻ chung của người bệnh. Ung thư đại trực tràng có tiên lượng khá tốt, là bệnh có khả năng phòng và phát hiệnh sớm.
Thông thường, trước khi phẫu thuật, người bệnh ung thư đại trực tràng được chỉ định thực hiện xạ trị kết hợp hóa trị để làm thu nhỏ kích thước khối u, giúp quá trình phẫu thuật thuận lợi hơn, giảm biến chứng và nguy cơ ung thư tái phát ở vùng chậu sau điều trị. Sau đó, khối u trực tràng và các hạch bạch huyết lân cận sẽ được cắt bỏ. Phương pháp phẫu thuật thường được áp dụng nhất là cắt đoạn trực tràng chứa khối u và nối đoạn còn lại với hậu môn. Ngoài ra, tùy vào vị trí của khối u trên trực tràng mà có thể lựa chọn thực hiện phẫu thuật Miles (cắt bỏ trực tràng qua đường bụng và tầng sinh môn sau đó làm hậu môn nhân tạo) hoặc phẫu thuật cắt trước thấp (phẫu thuật bảo tồn cơ thắt)… Sau khi phẫu thuật, bác sĩ thường chỉ định thực hiện hóa trị để tiêu diệt những tế bào ung thư chưa được loại bỏ trong phẫu thuật và giúp giảm nguy cơ ung thư tái phát.



Để lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân, chúng tôi cần căn cứ vào bệnh trạng cụ thể của người bệnh bao gồm vị trí, kích thước của khối u, mức độ xâm lấn cũng như tình trạng sức khỏe tổng thể của người bệnh. Bạn nên đưa người thân đến bệnh viện để được các bác sĩ chẩn đoán và điều trị sớm nhất.
Xem thêm nguồn tham khảo:  http://chuyenkhoaungbuou.blogspot.com/2015/02/ung-thu-dai-truc-trang-co-dieu-tri-theo.html

Thứ Hai, ngày 02 tháng 2 năm 2015

Ung thư đại trực tràng giai đoạn cuối có sống được không?

Bệnh ung thư đại trực tràng là: tỷ lệ mắc bệnh chỉ đứng sau ung thư dạ dày và thực quản. Loại ung thư ác tính này thường gặp ở các bộ phận của đại trực tràng ( chiếm khoảng 60%). Để hiểu rõ hơn về những nguy cơ của căn bệnh này, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây. Việc điều trị  cần tuân thủ theo: Mức độ xâm lấn của khối u, các hạch bạch huyết xuất hiện ung thư, mức độ lây lan của khối u đến các bộ phận khác trong cơ thể.
Triệu chứng ung thư đại trực tràng
Bởi vì ung thư đại tràng thường phát triển chậm nên một số trường hợp có thể không có triệu chứng cho tới giai đoạn IV. Các triệu chứng thường gặp bao gồm có những thay đổi trong thói quen tiêu hóa như bị tiêu chảy hoặc táo bón đột ngột, chướng bụng và đầy hơi.
Ở giai đoạn này người bệnh có thể bị đau và chảy máu sau khi đại tiện. Phân có lẫn máu nhìn thấy được hoặc trong một số trường hợp phát hiện phân lẫn máu dưới kính hiển vi.
Bên cạnh đó bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn IV cũng có thể bị giảm cân đột ngột, mệt mỏi, khó chịu và đau ở bụng.
Chẩn đoán
Các phương pháp chẩn đoán bệnh ung thư đại tràng bao gồm xét nghiệm máu để kiểm tra chỉ điểm khối u, nội soi và sinh thiết, chụp MRI, siêu âm và chụp CT.
Tầm soát ung thư đại tràng thường xuyên là rất quan trọng do phần lớn các ca ung thư đại tràng được phát hiện muộn, khi bệnh đã tiến triển phức tạp, gây khó khăn cho điều trị.
Ung thư đại tràng giai đoạn IV có thể được chẩn đoán ở ngay lần đầu tiên hoặc là ung thư tái phát sau khi đã điều trị ở giai đoạn sớm.
Giai đoạn
Ung thư đại tràng giai đoạn IV được phân loại thành 2 nhóm: giai đoạn IVA và IVB. Ở giai đoạn IVA các tế bào ung thư đã lây lan tới một bộ phận nào đó trên cơ thể, trong khi ở giai đoạn IVB có khoảng hai bộ phận hoặc nhiều hơn đã bị ảnh hưởng bởi sự lan tràn của các tế bào ung thư. Theo báo cáo của Hiệp hội Ung thư Mỹ, gan và phổi là hai vị trí di căn phổ biến nhất của ung thư đại tràng.
Điều trị ung thư đại trực tràng
Tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn IV là khoảng 12%. Mục tiêu điều trị ở giai đoạn này là giảm bớt các triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.
Việc điều trị ung thư đại tràng giai đoạn IV phụ thuộc vào các yếu tố như vị trí của di căn và sức khỏe tổng quát của bệnh nhân. Các phương pháp điều trị chủ yếu là hóa trị nhằm tiêu diệt và kìm hãm sự phát triển của các tế bào ung thư hoặc điều trị trúng đích.

Triệu chứng có thể là báo hiệu bệnh ung thư da

Cơ thể con người lad một thể thống nhất, việc một bộ phần nào của cơ thể có vấn đề thì nó sẽ phát ra tín hiệu thông báo cho bạn. Dưới đây là những triệu chứng bệnh ung thư da giúp bạn biết đây là nốt ruồi hay đốm lão hóa cần được khám bác sỹ.
Nốt ruồi bất đối xứng
Nốt ruồi hoặc đốm lão hoá của bạn thường đối xứng, nếu bạn cắt đôi nó ra, hai bên sẽ là hình ảnh phản chiếu của nhau. Nếu vùng da này không đối xứng và không cân bằng thì có thể đây là dấu hiệu sớm cảnh báo bệnh ung thư da.
Đường viền
Hãy kiểm tra đường viền các nốt ruồi và các đốm lão hóa. Nếu đường viền và cạnh của nốt ruồi rõ ràng, đó là một dấu hiệu lành tính. Tuy nhiên, nếu đường viền không liên tục hoặc có một cạnh có nếp như vỏ sò hoặc khó xác định, đây là dấu hiệu cho thấy bạn cần phải đến gặp một chuyên gia y tế ngay lập tức.
Màu sắc

Nếu nốt ruồi của bạn là một trong những màu sắc - thường là một màu nâu rắn - điều này là bình thường. Mặt khác, nếu nốt ruồi có màu sắc khác nhau trong bóng râm từ vùng này sang vùng khác hoặc có màu sắc khác nhau - chẳng hạn như xanh, đỏ, trắng, hay đen - đây cũng là một lý do bạn nên quan tâm và đến gặp bác sỹ để kiểm tra thêm.
Đường kính
Kích thước của một nốt ruồi hoặc đốm lão hóa cũng rất quan trọng - nói chung, nốt hoặc đốm lành mạnh thường nhỏ hơn đường kính của thân chiếc bút chì. Bạn nên đi đến gặp bác sỹ nếu bạn có nốt ruồi và đốm lão hóa có đường kính lớn hơn. Nhìn chung, khối u ác tính có đường kính lớn hơn 6mm. Sự phát triển bất thường
Thậm chí nếu bạn không có các triệu chứng khác như những triệu chứng được đề cập ở trên, nếu một đốm lão hóa hoặc nốt ruồi bắt đầu thay đổi - cho dù nó phát triển, thay đổi màu sắc hoặc thêm màu hoặc thay đổi hình dạng của nó - đây là một dấu hiệu khác mà đòi hỏi phải kiểm tra y tế và tiến hành xét nghiệm càng sớm càng tốt.

Ung thư gan có thể phát hiện nhờ các biểu hiện của cơ thể

Ung thư gan có thể phát hiện nhờ các triệu chứng? Bệnh ngày càng gia tăng về số lượng. Trên thế giới, nó là loại ung thư phổ biến thứ 6. Và là bệnh có tỷ lệ cao nhất trong khu vực Đông Á.
Khoảng 4.300 trường hợp ung thư gan nguyên phát được chẩn đoán ở Việt Nam mỗi năm. Đây là căn bệnh phổ biến ở nam giới hơn so với phụ nữ. Nguy cơ mắc bênh tăng lên ở những người cao tuổi. có khoảng 90% trường hợp được chẩn đoán ở những người trên 55 tuổi.
Ung thư gan là một trong số những bệnh ung thư thường được chẩn đoán muộn, do bệnh ít gây ra triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn sớm. Khi gặp bất kỳ dấu hiệu nào bất thường, bạn nên đến ngay bệnh viện để được kiểm tra. Ung thư gan nếu phát hiện sớm sẽ có cơ hội điều trị và tiên lượng tốt hơn rất nhiều so với giai đoạn muộn
Các biểu hiện ung thư gan thường gặp nhất:
Giảm cân không chủ ý
Mất cảm giác ngon miệng
Cảm thấy no nhanh chóng sau khi ăn lượng nhỏ
Buồn nôn hoặc ói mửa
Gan to, có cảm giác như một khối ở phía dưới xương sườn bên phải
Lá lách to, như một khối ở dưới xương sườn bên trái
Đau ở vùng bụng hoặc gần xương bả vai bên phải
Sưng hoặc tràn dịch trong ổ bụng
Ngứa
Vàng da và mắt (bệnh vàng da)
Một số triệu chứng ung thư gan  khác có thể bao gồm sốt, mạch máu mở rộng trên bụng có thể nhìn thấy qua da, và vết bầm tím hoặc chảy máu bất thường.
Những người bị viêm gan mạn tính hoặc xơ gan có thể cảm thấy triệu chứng nặng hơn so với người bình thường.
Một số khối u gan khiến cho kích thích tố tác động lên các cơ quan khác ngoài gan. Những hormone này có thể gây ra:
Nồng độ canxi trong máu cao (tăng canxi huyết), có thể gây ra buồn nôn, lú lẫn, táo bón, suy nhược, hoặc các vấn đề cơ
Lượng đường trong máu thấp (hạ đường huyết), có thể gây ra mệt mỏi hoặc ngất xỉu
Tình trạng vú to bất thường ở nam giới hoặc co rút tinh hoàn ở nam giới
Số lượng các tế bào máu đỏ đỏ cao(erythrocytosis) khiến người bệnh có màu da đỏ ửng
Mức cholesterol cao
Những triệu chứng trên có thể gây ra bởi điều kiện khác, bao gồm các bệnh về gan. Dù vì lý do nào đi nữa, người bệnh cũng nên đến ngay cơ sở y tế để được chẩn đoán ung thư gan và điều trị kịp thời.

Ăn nhiều rau củ có thể giảm được nguy cơ mắc ung thư gan

Bệnh ung thư gan thường xuất hiện âm thầm nên người bệnh khó nhận biết được mình bị bệnh mà chỉ phát hiện ra bệnh khi ung thư gan đã ở giai đoạn muộn. Ở giai đoạn đầu nhiễm bệnh, phần lớn bệnh nhân ung thư gan đều không có triệu chứng gì đặc trưng, thậm chí người bệnh vẫn thấy hoàn toàn khỏe mạnh vì thế nên có bất cứ biện pháp chữa trị nào.
Chế độ ăn uống lành mạnh đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị bệnh ung thư gan, giúp bảo vệ gan trước những tổn thương do tác dụng của điều trị và cung cấp nguồn dinh dưỡng cần thiết để người bệnh nhanh chóng hồi phục.
Chế độ ăn cho người mắc ung thư gan là như thế nào? Các thực phẩm cần tránh như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho các bạn được biết.
Trái cây và rau quả
Chế độ ăn uống của người bệnh ung thư gan nên bổ sung các loại trái cây và rau quả. Bởi vì tác dụng phụ của các phương pháp điều trị sẽ làm cơ thể cạn kiệt vitamin và khoáng chất thiết yếu. Do đó trước, trong và sau khi điều trị ung thư gan, bệnh nhân nên ăn nhiều các loại rau xanh như bông cải xanh, cải bó xôi, bắp cải Brussels, cà rốt, khoai lang và bí.
Chọn các loại trái cây như dưa đỏ, cam, quýt, táo hoặc dâu bổ sung cho bữa phụ trong thực đơn hàng ngày.
Nên đút lò, nướng hoặc quay thịt thay vì chiên, xào. Tránh ăn các loại thịt đỏ và thịt đã qua chế biến như xúc xích, thịt xông khói…
Các loại ngũ cốc




Những thực phẩm nên tránh:
Nên hạn chế uống rượu vì rượu là một trong những yếu tố nguy cơ có thể gây ung thư gan.
Quá nhiều muối và natri trong chế độ ăn sẽ gây sưng và tích tụ chất lỏng. Tránh sử dụng các loại ngũ cốc, lúa mì, đậu nành bị mốc vì chất độc aflatoxin trong những sản phẩm này có thể gây hại cho gan.
Xem các biểu hiệu ung thư gan sớm để được kiểm tra chính xác nhất.
Bánh mì làm bằng ngũ cốc nguyên hạt và gạo nâu rất giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất, giữ cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh và bảo vệ sức khỏe.
Bánh mì làm bằng ngũ cốc nguyên hạt và gạo nâu rất giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất, giữ cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh và bảo vệ sức khỏe.
Protein nạc: là những nguồn protein ít chất béo, có trong thịt gia cầm, cá, đậu và một số loại hạt.
Protein nạc là những nguồn protein ít chất béo, có trong thịt gia cầm, cá, đậu và một số loại hạt.
Gan hoạt động như một bộ lọc, giúp loại bỏ các chất độc hại trong thực phẩm trong quá trình tiêu hóa. Ung thư gan có thể ức chế quá trình gan giải độc. Nhằm ngăn chặn sự tích tụ của độc tố ở gan, nên lựa chọn các loại thực phẩm có chứa protein nạc và ăn uống ở mức độ vừa phải, để gan có đủ thời gian để chuyển hóa chất dinh đưỡng đúng cách. Protein nạc là những nguồn protein ít chất béo, có trong thịt gia cầm, cá, đậu và một số loại hạt.

Một số sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc như bánh mỳ, mì ống, cơm có hàm lượng carbonhydate cao, cung cấp nguồn năng lượng cần thiết cho cơ thể. Tùy thuộc vào giai đoạn của ung thư gan và quá trình điều trị, người bệnh nên sử dụng các sản phẩm từ ngũ cốc nguyên hạt thay cho ngũ cốc thường. Bánh mì làm bằng ngũ cốc nguyên hạt và gạo nâu rất giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất, giữ cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh và bảo vệ sức khỏe.
Xem thêm tại đây:http://ungbuouvietnam.blogtiengviet.net/2015/01/23/b_nh_ung_th_gan_co_ch_n_nh_th_nao

© 2013 Dao Toan Group. Thiết kế bởi Đào Toàn | Blogger templates by Bloggertheme
Proudly Powered by DaoToan group.